vanban.org

Bản án 120/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Lệ T đối với bị đơn ông Phan Văn H về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Lệ T được ly hôn với ông Phan Văn H. Về con chung: Giao cháu Phan Ngọc Kim N, sinh ngày 27 tháng 10 năm 2010 cho bà Trần Thị Lệ T trực tiếp nuôi dưỡng. Con chung tên Phan Văn T1, sinh ngày 28 tháng 8 năm 1998 hiện nay đã trưởng thành nên không đặt vấn đề giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà Trần Thị Lệ T yêu cầu được ly hôn với ông Phan văn H và yêu cầu được nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Lệ T đối với bị đơn ông Phan Văn H về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 120/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27-10-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Minh Lý.

2. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Quyết – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 289/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2023 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 61/2023/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Lệ T, sinh năm 1977; địa chỉ: Số A, đường H, tổ A, khu phố A, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Phan Văn H, sinh năm 1974; địa chỉ: Số E, đường H, tổ C, khu phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị Lệ T trình bày:

Bà Trần Thị Lệ T và ông ông Phan Văn H là vợ chồng, đăng ký kết hôn năm 2003 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 113, quyển số 01, ngày 25 tháng 8 năm 2003. Sau khi kết hôn, bà T và ông H chung sống tại nhà riêng của vợ chồng tại địa chỉ số E, đường H, tổ C, khu phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; căn nhà này xây dựng trên đất của ba mẹ chồng bà T.

Thời gian đầu sau khi kết hôn, bà T và ông H chung sống hạnh phúc, đến khoảng năm 2015 thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, thường xuyên cải vã nhau. Từ năm 2016, bà T đã dẫn con chung tên Phan Ngọc Kim N, sinh ngày 27 tháng 10 năm 2010 về nhà mẹ ruột tại địa chỉ số A, đường H, tổ A, khu phố A, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương sinh sống cho tới nay. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông H.

Về con chung: Bà T và ông H có 02 con chung tên Phan Văn T1, sinh ngày 28 tháng 8 năm 1998 và Phan Ngọc Kim N, sinh ngày 27 tháng 10 năm 2010. Con chung tên Phan Văn T1, sinh ngày 28 tháng 8 năm 1998 hiện nay đã trưởng thành. Đối với con chung tên Phan Ngọc Kim N, sinh ngày 27 tháng 10 năm 2010; khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Phan Văn H được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông H không đến Tòa án nhân dân thành phố T làm việc, không gửi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án, vì vậy Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của bị đơn ông H về việc giải quyết vụ án.

Tại biên bản ghi nhận ý kiến ngày 18 tháng 7 năm 2023, cháu Phan Ngọc Kim N trình bày: Cháu N đã học xong lớp 7, chuẩn bị lên lớp 8 Trường Trung học Cơ sở T2 thuộc phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Cháu N đang sống cùng với mẹ và ông bà ngoại; cháu N có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng với mẹ.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố T thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn vi phạm nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến và yêu cầu khắc phục gì thêm về tố tụng.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nhận thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông H đã trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Về con chung: Bà T và ông H có 02 con chung tên Phan Văn T1, sinh ngày 28 tháng 8 năm 1998 và Phan Ngọc Kim N, sinh ngày 27 tháng 10 năm 2010. Hiện nay con chung tên Phan Văn T1, sinh ngày 28 tháng 8 năm 1998 đã trưởng thành. Đối với con chung tên Phan Ngọc Kim N, sinh ngày 27 tháng 10 năm 2010; cháu N đang sống cùng với bà T và có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng với bà T; nhận thấy việc giao cháu N cho bà T nuôi dưỡng là đảm bảo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của cháu N. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt vấn đề xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, qua ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định.

Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn ông H nên Tòa án xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông H đang cư trú tại thành phố T, tỉnh Bình Dương. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn bà T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt, bị đơn ông H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia phiên tòa vào các ngày 29 tháng 9 năm 2023 và 27 tháng 10 năm 2023 nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ theo quy định tại các Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà T và ông H.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông H tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 113, quyển số 01, ngày 25 tháng 8 năm 2003. Hôn nhân của bà T và ông H là hợp pháp.

Bà T cho rằng cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và không tìm được tiếng nói chung; bà T và ông H không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau thực hiện các công việc chung trong gia đình; do đó bà T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông H.

Hội đồng xét xử xét thấy qua xác minh tại địa phương để xác định nguyên nhân mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân của vợ chồng bà T và ông H thì địa phương không rõ vì vợ chồng bà T và ông H không trình báo với địa phương về vấn đề mâu thuẫn gia đình; tuy nhiên hiện nay bà T và ông H không còn sống chung. Như vậy tình cảm vợ chồng giữa bà T và ông H đã không còn nên bà T mới khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông H; ông H được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa án để tham gia tố tụng, cũng không có văn bản trình bày ý kiến về việc giải quyết vụ án, chứng tỏ ông H cũng không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà T. Như vậy, mâu thuẫn giữa bà T và ông H đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn; mục đích hôn nhân giữa bà T và ông H không đạt được. Do đó yêu cầu của bà T về việc được ly hôn với ông H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Quá trình chung sống, bà T và ông H có 02 con chung tên Phan Văn T1, sinh ngày 28 tháng 8 năm 1998 và Phan Ngọc Kim N, sinh ngày 27 tháng 10 năm 2010. Con chung tên Phan Văn T1, sinh ngày 28 tháng 8 năm 1998 hiện nay đã trưởng thành. Đối với con chung tên Phan Ngọc Kim N, sinh ngày 27 tháng 10 năm 2010; khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử xét thấy cháu N có nguyện vọng được sống cùng với bà T. Quá trình giải quyết vụ án, ông H cũng không có ý kiến về việc có yêu cầu được nuôi dưỡng con chung hay không. Do đó, để đảm bảo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của cháu N thì cần giao cháu N cho bà T nuôi dưỡng. Bà T yêu cầu được nuôi dưỡng con chung là có căn cứ theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Lệ T đối với bị đơn ông Phan Văn H về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Lệ T được ly hôn với ông Phan Văn H.

- Về con chung: Giao cháu Phan Ngọc Kim N, sinh ngày 27 tháng 10 năm 2010 cho bà Trần Thị Lệ T trực tiếp nuôi dưỡng. Con chung tên Phan Văn T1, sinh ngày 28 tháng 8 năm 1998 hiện nay đã trưởng thành nên không đặt vấn đề giải quyết.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Không đặt vấn đề giải quyết.

Bà Trần Thị Lệ T và ông Phan Văn H được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, không ai được quyền cản trở. Trường hợp ông Phan Văn H lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi con của bà Trần Thị Lệ T thì bà Trần Thị Lệ T có quyền yêu cầu hạn chế quyền thăm nom con của ông Phan Văn H theo quy định của pháp luật. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt vấn đề giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Trần Thị Lệ T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0003265 ngày 03 tháng 7 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Bình Dương.

3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ