vanban.org

Bản án 120/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ tình cảm: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Bùi Xuân T1.

Về quan hệ con chung: Giao ba con chung cháu Bùi Ngọc Á (Giới tính: Nữ), sinh ngày 24/7/2014, cháu Bùi Thụy M (Giới tính: Nữ), sinh ngày 22/10/2015 và cháu Bùi Thục K ( Giới tính: Nữ ),sinh ngày 19/7/2020 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ tình cảm: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Bùi Xuân T1.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN THÀNH
TỈNH NGHỆ AN
––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 120/2023/HNGĐ-ST
Ngày 20 tháng 11 năm 2023
“V/việc tranh chấp về hôn nhân gia đình”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Anh Ngọc

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Tấn – Ông Nguyễn Đình Thanh

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Không tham gia.

Trong ngày 17 tháng 10 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 454/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2023 ,về việc Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 253/2023/QĐST- HNGĐ ngày 31/10/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số:110/2023/QĐ-HPT ngày 13/11/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 01/02/1992.

Địa chỉ: xóm V, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An (Có mặt)

- Bị đơn: Anh Bùi Xuân T1, sinh ngày 18/9/1988.

Địa chỉ: xóm V, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, trình bày tại bản khai và trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa thì vụ án có nội dung.

-Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Bùi Xuân T1 đăng ký kết tại UBND xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 55/2014 ngày 18/8/2014.Trước khi kết hôn chị T, anh T1 có quá trình tìm hiểu, yêu đương, tự nguyện tiến tới hôn nhân, được gia đình hai bên tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương. Theo chị T,sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là quá trình sống chung giữa chị T, anh T1 không hợp nhau về tất cả mọi mặt.Trong cuộc sống chung sống không hòa thuận, thường xảy ra tranh chấp, cự cải vợ chồng xử sự thiếu tôn trọng nhau. Mâu thuẫn thường xuyên xẩy ra trong cuộc sống chung đã làm mất tình cảm vợ chồng, hôn nhân có dấu hiệu đổ vỡ. Do mâu thuẫn xẩy ra ngày càng sâu sắc, nên hai gia đình nội ngoại, bạn bè đã có những lời lẽ động viên, góp ý hoà giải để vợ chồng đoàn tụ, nhưng kết quả không thành. Ngược lại mâu thuẫn xẩy ra ngày càng trầm trọng sâu sắc hơn. Do không còn tình cảm với anh T1, xác định hôn nhân đã đỗ vỡ không thể hàn gắn, nên các bên đã sống ly thân cắt đứt các mối quan hệ từ đầu năm 2021 cho đến nay. Chị T xác định không còn tình cảm với anh T1 nữa, không thể tiếp tục duy trì hôn nhân,chị nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Bùi Xuân T1.

2. Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Bùi X có 03 con chung, cháu Bùi Ngọc Á (Giới tính: Nữ) - sinh ngày 24/7/2014, cháu Bùi Thụy M ( Giới tính: Nữ), sinh ngày 22/10/2015 và cháu Bùi Thục K ( Giới tính: Nữ ),sinh ngày 19/7/2020.Từ ngày vợ chồng sống ly thân ba con chung đang được chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh T1 không có trách nhiệm gì đối với con chung. Ly hôn chị T đề nghị được trực tiếp nuôi cả ba con chung, các con chung đều có nguyện vọng được sinh sống trực tiếp với chị mẹ. Được giao nuôi cả ba con chung, chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về quan hệ tài sản chung: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Bùi Xuân T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, yêu cầu anh có mặt tại tòa án để giải quyết vụ án, nhưng anh không hợp tác, nên Tòa án không thu thập được ý kiến, lời khai của bị đơn. Song qua các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và xác minh tình trạng hôn nhân, con chung chưa thành niên tại địa phương thì về quan hệ hôn nhân, quan hệ con chung giữa chị Nguyễn Thị T, anh Bùi Xuân T1 cơ bản đúng như nguyên đơn đã trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đều cư trú tại xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An qui định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, yêu cầu nguyên đơn, bị đơn có mặt tại tòa án để giải quyết, nhưng bị đơn không chấp hành, không hợp tác. Do đó Tòa án đã lập biên bản theo trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự làm cơ sở để giải quyết vụ án.

Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy báo tham gia phiên tòa lần thứ nhất đã được niêm yết, tống đạt lệ cho các đương sự. Tại phiên tòa lần thứ nhất nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử đã Quyết định hoãn phiên tòa, ấn định về thời gian tiếp tục xét xử vụ án.Tòa án tiếp tục tống đạt, hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy báo tham gia phiên tòa lần thứ hai cho các đương sự. Tại phiên tòa lần thứ hai nguyên đơn có mặt, bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với bị đơn.

Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Điều kiện kết hôn, trình tự thủ tục tiến tới hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T2 và anh Bùi Xuân đảm b đúng quy định của pháp luật. Chị T, anh T1 tự nguyện tiến tới hôn nhân, đã đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 070/2015 ngày 17/11/2015, nên xác định hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Bùi Xuân T1 là hôn nhân hợp pháp. Mâu thuẫn cơ bản dẫn đến hôn nhân giữa chị T, anh T1 mất tình cảm dẫn đến hôn nhân tan rã đổ vỡ, là do quá trình sống chung vợ chồng tính tình không hợp, không tìm được tiếng nói, lối đi chung trong hôn nhân. Do đó các bên đã có những lời nói, xử sự không đúng mực với nhau, hôn nhân giữa chính thức tan rã đổ kể từ ngày vợ chồng sống ly thân. Quá trình sống ly thân cho đến nay chị T, anh T1 không có ý thức níu kéo hôn nhân để mặc hậu quả xẩy ra. Điều này cho thấy sợi dây gắn kết tình cảm giữa hai người không còn, mục đích hôn nhân các bên hôn nhân không còn.Nay chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T1 là có căn cứ, cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Bùi Xuân T1.

- Về quan hệ con chung: Kể từ đầu năm 2021 đến nay con chung của vợ chồng được chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Mặc dù không có sự hổ trợ của anh T1 về vật chất hoặc tinh thần. Nhưng chị T vẫn nuôi dạy con chung phát triển về mọi mặt, thể hiện người mẹ có trách nhiệm cao trong việc nuôi dạy con chung. Do đó chị T đề nghị giao các con chung cho chị được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là đúng với pháp luật, phù hợp với đạo đức xã hội và nguyện vọng của con chung. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, xử chấp nhận về việc đề nghị giao nuôi con của chị Nguyễn Thị Thục .

Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị T2 không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung, nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng con cho anh T1 cho đến lúc có đơn yeu cầu.

- Về quan hệ tài sản: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu tòa giải quyết, nên không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị T phải nộp án phí ly hôn, án phí cấp dưỡng sơ thẩm. Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình. Xử:

1.Về quan hệ tình cảm: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Bùi Xuân T1.

2.Về quan hệ con chung: Giao ba con chung cháu Bùi Ngọc Á (Giới tính: Nữ), sinh ngày 24/7/2014, cháu Bùi Thụy M (Giới tính: Nữ), sinh ngày 22/10/2015 và cháu Bùi Thục K ( Giới tính: Nữ ),sinh ngày 19/7/2020 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Bùi Xuân T1 cho đến lúc chị T có đơn yêu cầu. Anh Bùi Xuân T1 người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom chăm sóc con chung không được ai cản trở, ngăn cấm. Vì lợi ích của con các bên có quyền Vì lợi ích của con các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Áp dụng điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự: Điều 26: Điều 27 của nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

- Buộc: Chị Nguyễn Thị T nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hônsơ thẩm. Án phí chị T phải nộp được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An theo biên lai nộp tiền số: AA/2022/0001519 ngày 04/10/2023, chị T đã nộp đủ án phí.

4.Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo lên tòa án cấp phúc thẩm trong hạn15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo lên tòa án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã H, huyện Y, Nghệ An và nơi cư trú cuối cùng của bị đơn.

TM: HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ