- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn và nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Hồng C ly hôn anh Phạm Minh T.
- Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 120/2023/HNGĐ-ST Ngày: 25 – 8 – 2023 V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến Ly
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Tuyết Kha
2. Ông Đặng Văn Cểu
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Văn Trường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Nhiên – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 246/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 217/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng C, sinh năm 1986. Địa chỉ: ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)
2. Bị đơn: Anh Phạm Minh T, sinh năm 1983. Địa chỉ: ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, lời khai có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng C trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh T tự nguyện sống chung từ năm 2006, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phong Thạnh Tây B và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 27/5/2010. Chị và anh T đã ly thân từ tháng 6/2021 đến nay do sống chung không hạnh phúc. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị và anh T có 01 người con chung là Phạm Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 23/6/2021, hiện đang sống chung với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Tại đơn khởi kiện chị có yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật, tuy nhiên nay chị xin rút yêu cầu cấp dưỡng, chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Phạm Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên Tòa án không lấy được lời khai.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; Đối với đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, riêng bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án:
+ Về hôn nhân: Căn cứ theo khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cho chị C được ly hôn với anh T.
+ Về con chung: Giao cháu Phạm Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 23/6/2021 cho chị C tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh T được quyền thăm nom con chung, không ai được quyền ngăn cản.
Về cấp dưỡng: Chị C xin rút yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, việc rút yêu cầu của chị C là hoàn toàn tự nguyện nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đình chỉ yêu cầu này của chị C.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
+ Về án phí: Chị C phải chịu 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Chị C khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh T, anh T đang cư trú trên địa bàn huyện Phước Long nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Phước Long thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, chị C có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt chị C và anh T là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Chị C và anh T tự nguyện sống chung từ năm 2006 và có đăng ký kết hôn đúng theo quy định nên hôn nhân giữa chị C và anh T là hôn nhân hợp pháp, tuy nhiên chị C và anh T đã ly thân từ tháng 6/2021 đến nay. Xét thấy theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau nhưng chị C và anh T đã ly thân mà hai bên không có hành động gì để hàn gắn hôn nhân. Mặt khác, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh T không đến Tòa án và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị C, như vậy anh T đã bỏ mặc quan hệ hôn nhân này. Từ đó cho thấy hôn nhân của chị C và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị C, cho chị C được ly hôn với anh T.
Về con chung: Căn cứ theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do chị C cung cấp và lời khai của chị C thì chị C và anh T có một người con chung là Phạm Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 23/6/2021, hiện đang sống chung với chị C. Chị C yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Anh T đã được Tòa án thông báo về việc yêu cầu nuôi con chung của chị C nhưng anh T không có ý kiến phản đối gì đối với yêu cầu của chị C. Xét thấy, cháu A dưới 36 tháng tuổi và sống cùng với chị C từ khi ly thân đến nay, hiện cháu A phát triển tốt, chị C có đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung. Do đó căn cứ vào khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, để bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của cháu A, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị C: Giao cháu Phạm Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 23/6/2021 cho chị C được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng: Tại đơn khởi kiện chị C yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật, tuy nhiên tại biên bản lấy lời khai ngày 20/7/2023 chị C xin rút yêu cầu, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy việc rút yêu cầu khởi kiện của chị C là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 và khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của chị C yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Từ những nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Chị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng. Anh T không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 217, 227, 228, 244, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào các Điều 19, 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Hồng C ly hôn anh Phạm Minh T.
2. Về con chung: Giao cháu Phạm Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 23/6/2021 cho chị Nguyễn Thị Hồng C được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Phạm Minh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng: Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của chị Nguyễn Thị Hồng C yêu cầu anh Phạm Minh T cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
3. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000 đồng. Chị C đã dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012798 ngày 03 tháng 7 năm 2023 tại C cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long nên được chA sang thu án phí. Anh Phạm Minh T không phải chịu án phí.
5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Phước Long; - C cục THADS huyện Phước Long; - TAND tỉnh Bạc Liêu; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Yến Ly |