vanban.org

Bản án 120/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Kim L về việc: “Ly hôn ” với anh Đinh Văn M.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Kim L được ly hôn với anh Đinh Văn M. Về con chung: Chị L và anh M có 01 con chung là Đinh Văn Thành T, sinh ngày 07/8/2001. Do cháu T đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không đặt ra xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên Kim L - Đinh văn M"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Kim L về việc: “Ly hôn ” với anh Đinh Văn M.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 120 /2023/HNGĐ-ST
Ngày: 30 - 8 - 2023
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Trung

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoài Đức Huệ

2. Bà Trần Thanh Phương

Thư ký phiên tòa: Bà Quân Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Bà Đặng Vân Hoàng Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 08 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 118/2023/TLST - HNGĐ ngày 16 tháng 03 năm 2023 về việc: “Ly hôn ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 700/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 24 tháng 07 năm 2023, quyết định hoãn phiên tòa số: 810/2023/QĐST- HNGĐ ngày 14 tháng 08 năm 2023, giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Chị Nguyễn Kim L, sinh năm 1980. Địa chỉ: Ấp Th, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

+ Bị đơn: Anh Đinh Văn M, sinh năm: 1972; Địa chỉ: Ấp Ph, xã Ph, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

(Các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 09 tháng 03 năm 2023, bản tự khai ngày 08 tháng 05 năm 2023 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, chị Nguyễn Kim L trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh M tự nguyện chung sống và có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ph, huyện N, Đồng Nai vào năm 2004 (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 26 ngày 05 tháng 04 năm 2004. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu nhưng kể từ khi chung sống với nhau, nhiều mâu thuẫn phát sinh vì không có tiếng nói chung với nhau, không cùng suy nghĩ, không cùng quan điểm sống dẫn đến chị và anh M thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã làm cho cuộc sống chung trở nên căng thẳng, không hạnh phúc. Ngoài ra anh M thường xuyên xúc phạm chị L, không tôn trọng cha mẹ chị. Chị L nhiều lần cố gắng chịu đựng nhưng nhận thấy không thể hàn gắn được nữa, tình cảm vợ chồng giảm sút và hai bên không còn quan tâm đến nhau đồng thời không thể hòa giải hay chia sẻ gì với nhau được nữa. Chị và anh M đã ly thân từ tháng 7/2015 cho đến nay. Nay chị L cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc hôn nhân không đạt được nên chị làm đơn này đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Đinh Văn M.

- Về con chung: Có 01 con chung là Đinh Văn Thành T, sinh ngày 07/8/2001. Do cháu T đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vì bận công việc ở xa nên chị L có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

*Bị đơn anh Đinh Văn M đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thủ tục hòa giải, thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định xét xử, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được Tòa án thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đơn khởi kiện xin ly hôn của chị L là có cơ sở nên đề nghị chấp nhận cho chị L được ly hôn với anh M. Về con chung: Có 01 con chung là Đinh Văn Thành T, sinh ngày 07/8/2001. Do cháu T đã trưởng thành và có khả năng lao động nên đề nghị không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự trình bày không có nên đề nghị không đặt ra xem xét. Về án phí: Chị L phải nộp án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Kim L có đơn xin vắng mặt, bị đơn anh Đinh Văn M đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự để tiến hành xét xử theo quy định.

.Về thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ tranh chấp và tư cách đương sự: Chị Nguyễn Kim L xin ly hôn với anh Đinh Văn M. Anh M hiện có đăng ký thường trú tại Ấp Ph, xã Ph, huyện N, tỉnh Đồng Nai nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện N có thẩm quyền giải quyết vụ án. Quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn ”. Căn cứ Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định nguyên đơn là chị Nguyễn Kim L, bị đơn là anh Đinh Văn M.

. Về yêu cầu khởi kiện:

3.1 Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Kim L và anh Đinh Văn M chung sống và đăng ký kết hôn vào năm 2004 trên cơ sở tự nguyện và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 26 ngày 05 tháng 04 năm 2004 nên căn cứ Điều 8, Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 hôn nhân trên được xem là hợp pháp.

Xét lời trình bày của chị L tại đơn khởi kiện ngày 09 tháng 03 năm 2023, bản tự khai ngày 08 tháng 05 năm 2023 và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ nhận thấy: Chị L yêu cầu được ly hôn với anh M do vợ chồng đã hết tình cảm, không còn khả năng hòa giải đoàn tụ. Về phía anh M được Tòa án triệu tập nhiều lần để làm việc, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh L tục vắng mặt thể hiện việc anh M không có thiện chí hòa giải, đoàn tụ. Hơn nữa trong khoảng thời gian ly thân, hai bên không L lạc với nhau, không còn quan tâm đến nhau. Từ những căn cứ trên, xét mâu thuẫn giữa chị L và anh M là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L yêu cầu ly hôn với anh M là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

3.2. Về con chung: Chị L và anh M trong quá trình chung sống có 01 con chung là Đinh Văn Thành T, sinh ngày 07/8/2001. Do cháu T đã trưởng thành và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

3.3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị L khai không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

. Về án phí: Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 264, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 8, Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Kim L về việc: “Ly hôn ” với anh Đinh Văn M.

Tuyên xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Kim L được ly hôn với anh Đinh Văn M.

2. Về con chung: Chị L và anh M có 01 con chung là Đinh Văn Thành T, sinh ngày 07/8/2001. Do cháu T đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không đặt ra xem xét.

3.Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét.

4.Về án phí: Chị Nguyễn Kim L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình, nhưng được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí mà chị L đã nộp theo biên lai thu số 0008464 ngày 14 tháng 03 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Đồng Nai. Chị L đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án./.

Cỡ chữ