vanban.org

Bản án 120/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Hoàng Thị Q và anh Trần Văn L.

Về con chung: Giao hai con chung là Trần Trung D, sinh ngày 02-10-2008 và Trần Thị Thanh H, sinh ngày 16-9-2014 cho chị Hoàng Thị Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi. Anh Trần Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị Q - Trần Văn L"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Hoàng Thị Q và anh Trần Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 120/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 29-11-2023
V/v: Không công nhận quan hệ
vợ, chồng và tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Thao

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Khiếu

Ông Trương Xuân Vũ

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Linh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên tham gia phiên tòa: Bà Diêm Thị Thanh Tuyền – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 248/2023/TLST-HNGĐ ngày 12-10-2023 về việc: Không công nhận quan hệ vợ, chồng và tranh chấp về nuôi con; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07-11-2023, Thông báo về việc mở lại phiên tòa số: 32/2023/TBXX ngày 17-11-2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Q, sinh năm 1988

Địa chỉ: Thôn 4 Vàn, xã P, huyện L, tỉnh Y.

- Bị đơn: Anh Trần Văn L, sinh năm 1988

Địa chỉ: Thôn 4 Vàn, xã P, huyện L, tỉnh Y.

Các đương sự đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hoàng Thị Q trình bày:

Chị và anh Trần Văn L chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2007 nhưng không đăng ký kết hôn. Chị và anh L chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, anh L thường uống rượu và có hành vi đánh, chửi chị. Mâu thuẫn giữa chị và anh L đã được hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Chị xác định tình cảm với anh L đã hết, chị yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ, chồng giữa chị và anh L.

Về con chung: Chị và anh L có hai con chung là Trần Trung D, sinh ngày 02-10-2008 và Trần Thị Thanh H, sinh ngày 16-9-2014. Ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con và không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung, nợ chung : Chị Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn là anh Trần Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt và không có ý kiến thể hiện trong hồ sơ vụ án.

- Qua xác nhận của Ủy ban nhân dân xã P, xác định chị Q và anh L có tổ chức cưới theo phong tục, tập quán và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2007 nhưng không đăng ký kết hôn. Chị Q và anh L có hai con chung là Trần Trung D, sinh ngày 02-10-2008 và Trần Thị Thanh H, sinh ngày 16-9-2014.

- Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng: Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án để tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70,72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử

Căn cứ các Điều 9,14,53,81,82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

+ Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Hoàng Thị Q và anh Trần Văn L.

+ Về con chung: Giao hai con chung Trần Trung D, sinh ngày 02-10-2008 và Trần Thị Thanh H, sinh ngày 16-9-2014 cho chị Hoàng Thị Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi.

Anh Trần Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con

+ Về án phí: Chị Hoàng Thị Q phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc “Không công nhận quan hệ vợ, chồng và tranh chấp về nuôi con”. Bị đơn anh Trần Văn L có nơi cư trú tại xã P, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.

Tại phiên tòa, chị Q vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh L được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Q và anh Trần Văn L sống chung với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Trong quá trình sống chung chị Q và anh L thường xảy ra mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống. Chị Q xác định tình cảm với anh L đã hết và yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng với anh L.

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án xét thấy: Chị Q và anh L tổ chức cưới theo phong tục, tập quán của dân tộc và tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2007 đến nay nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là vi phạm quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình nên hôn nhân của chị Q và anh L không có giá trị pháp lý, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Do đó căn cứ khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Q và anh L.

Về con chung: Chị Hoàng Thị Q và anh Trần Văn L có hai con chung là Trần Trung D, sinh ngày 02-10-2008 và Trần Thị Thanh H, sinh ngày 16-9-2014, chị Q có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung. Xét thấy, Nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung của chị Q là phù hợp với quyền và nghĩa vụ của mẹ đối với con được quy định trong luật Hôn nhân và gia đình cũng như phù hợp với nguyện vọng của các con. Do đó, để đảm bảo quyền, lợi ích và nguyện vọng của các con nên giao hai con cho chị Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Q không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Q phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 14, Điều 15, Điều 53, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Hoàng Thị Q và anh Trần Văn L.

2. Về con chung: Giao hai con chung là Trần Trung D, sinh ngày 02-10-2008 và Trần Thị Thanh H, sinh ngày 16-9-2014 cho chị Hoàng Thị Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi.

Anh Trần Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con

Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Hoàng Thị Q phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí chị Q đã nộp theo biên lai số: AA/2022/0001102 ngày 12-10-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Chị Q đã nộp đủ tiền án phí

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ