- Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 120/2022/HS-ST Ngày: 30-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà H
Các Hội thẩm nhân dân: Ông …, bà…
-Thư ký phiên tòa: Ông C - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Ông D - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 11 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 110/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: A, sinh năm 1986, tại Thanh Hóa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ….., huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú:..thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Ph (đã chết) và bà Kh (đã chết); có vợ: P, sinh năm .. và có 02 người con, lớn nhất 2010, nhỏ nhất 2019; tiền sự: Không.
Tiền án:
-Ngày 06/3/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 06 (Sáu) năm tù về tội “Cướp tài sản” (Tại bản án hình sự sơ thẩm số 09/2013/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/02/2018, chưa chấp hành xong phần bồi thường trách nhiệm dân sự.
-Ngày 07/5/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xử phạt 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2020/HS-ST ngày 07/5/2020), chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/3/2021, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 17/9/2020;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/7/2022 cho đến nay “có mặt tại phiên tòa”
Người bị hại:
Ông 1, sinh năm 1989; nơi cư trú khu phố Phú Xuân, phường Tân Phú, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Có mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông 2, sinh năm 1982; nơi cư trú khu phố 03, phường Tân Đồng, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Có mặt
Người làm chứng:
-Ông 3, sinh năm 1982; nơi cư trú .., phường Tân Thiện, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt
-Ông 4, sinh năm 1992; nơi cư trú … thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 29/7/2022, A điều khiển xe mô tô biển số 93P1-14207 đi ngang qua công trình xây dựng nhà ở, thuộc khu phố Phú Tân, phường Tân Phú, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước và phát hiện ở đây có một số dụng cụ dùng trong xây dựng của anh 1 nhưng không có người trông coi. A nảy sinh ý định trộm cắp số tài sản trên để bán lấy tiền tiêu xài. A dựng xe mô tô biển số 93P1- 14207, khiêng 04 chân giàn giáo xây dựng bằng sắt kích thước (1,7 x 1,2)m; 01 thanh chéo hình chữ X bằng sắt dài 1,2m; 01 cây xà beng bằng sắt dài 1,4m có đường kính 5cm để lên xe. Lúc này, anh 3 phát hiện A đang thực hiên hành vi trộm cắp nên bắt giữ A cùng tang vật và báo Công an phường Tân Phú, thành phố Đồng Xoài đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Ngày 01/8/2022, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự có bản kết luận định giá tài sản số 66/KLĐG kết luận: 04 chân giàn giáo xây dựng bằng sắt kích thước (1,7 x 1,2)m; 01 thanh chéo hình chữ X bằng sắt dài 1,2m; 01 cây xà beng bằng sắt dài 1,4m có đường kính 5cm. Tất cả có tổng trọng lượng là 56kg, đã qua sử dụng bị ô xi hóa một phần trị giá 392.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 120/CT-VKS ngày 31/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo A về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1, Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo A mức án từ 09 đến 12 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
A tại phiên tòa xác nhận nội dung Bản cáo trạng là đúng với hành vi bị cáo thực hiện, không tranh luận và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng số 120/CT-VKS ngày 31/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
Xét lời khai tại phiên tòa là phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản kiểm tra bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ tài sản, đồ vật, kết luận điều tra, vật chứng vụ án cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa; thấy phù hợp về thời gian, địa điểm và phương thức thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 29/7/2022 A vào công trình xây dựng của anh 1 thuộc khu phố Phú Tân, phường Tân Phú, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước lén lút lấy trộm 04 chân giàn giáo, 01 thanh chéo hình chữ X và 01 cây xà beng bằng sắt thì bị ông 3 phát hiện bắt giữ giao cho cơ quan công an.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 66/KLĐG ngày 01/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đồng Xoài kết luận: 04 chân giàn giáo xây dựng bằng sắt kích thước (1,7 x 1,2)m; 01 thanh chéo hình chữ X bằng sắt dài 1,2m; 01 cây xà beng bằng sắt dài 1,4m có đường kính 5cm. Tất cả có tổng trọng lượng là 56kg, đã qua sử dụng bị ô xi hóa một phần trị giá 392.000 đồng (ba trăm chin mươi hai ngàn đồng).
Giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt 392.000đồng chưa đủ định lượng, nhưng A đã có 02 tiền án về tội trộm cắp tài sản và cướp tài sản chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này là yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài truy tố bị cáo là đúng quy định.
A là người đã thành niên, có đủ năng lực hành vi dân sự nên nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác vi phạm pháp luật. Bản thân đã 02 lần bị xét xử về các hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng không có hướng sửa chữa, vẫn tiếp tục đi vào con đường phạm tội, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người bị hại là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ.
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; tài sản chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho người bị hại nên chưa gây thiệt hại.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi và hậu quả bị cáo gây ra cho xã hội, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân cần phải xét xử mức án nghiêm khắc đối với bị cáo.
Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập nên không áp dụng.
[3] Đối với ông 2 là người cho bị cáo A mượn xe mô tô biển số 93P1- 14207 nhưng không biết bị cáo sử dụng xe làm phương tiện phạm tội nên không đặt vấn đề xử lý.
[4] Trách nhiệm dân sự và vật chứng vụ án:
-04 chân giàn giáo xây dựng bằng sắt thước (1,7 x 1,2)m; 01 thanh chéo hình chữ X bằng sắt dài 1,2m; 01 cây xà beng bằng sắt dài 1,4m có đường kính 5cm; 01 đĩa DVD hiệu KACHI JAPAN màu vàng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã lại cho ông Phạm Văn Nghĩa, ông Nghĩa không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-01 xe mô tô biển số 93P1- 14207 đã trả lại cho ông 2, ông Hùng và ông không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa là có căn cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt A 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2022.
3. Trách nhiệm dân sự và vật chứng: Không ai yêu cầu nên không xem xét.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo A phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo; người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước; - VKSND thành phố Đồng Xoài; - VKSND tỉnh Bình Phước; - Chi cuïc THADS thành phố Đồng Xoài; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước. - CA thành phố Đồng Xoài; - Phòng PV 06 Công an tỉnh BP; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS-VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã ký |