vanban.org

Bản án 120/2022/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 18/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh B + đp giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 120/2022/HS-ST
Ngày: 18/11/2022
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đình Thanh.

Thẩm phán: Bà Võ Thị Trầm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Tuất

Ông Lê Xuân Hải

Ông Võ Ngọc Ánh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thu Uyên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn N Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 156/2022/TLST-HS ngày 31/10/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2022/QĐXXST-HS ngày 04/11/2022, đối với các bị cáo:

1. Lê Thanh B (Sắt), sinh năm: 2000 tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn V, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Thợ sắt; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: N; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt N; con ông Lê Thanh X, sinh năm 1981 và bà Trần Thị Minh H, sinh năm 1982; có vợ Trần Hoàng Yến N, sinh năm 1999 (không đăng ký kết hôn) và con Trần Hoàng Minh T, sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/9/2021, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Khánh Hòa, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Thanh B: Luật sư Nguyễn Thị Thu Hiền – Văn phòng luật sư Khả N, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt)

2. Phạm Thành N (N Nhóc), sinh năm: 1994 tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Tổ 14 N, phường N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: N; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt N; con ông Phạm Đình Đ, sinh năm 1959 và bà Lưu Thị T, sinh năm 1963; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 03/11/2010 bị Công an phường P, thành phố N lập biên bản xử lý vi phạm về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Ngày 04/11/2010 bị Công an phường P, thành phố N lập biên bản xử lý vi phạm về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”; Ngày 03/12/2010 bị UBND phường P, thành phố N ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thời gian 03 tháng; Ngày 18/12/2010 bị Công an phường P, thành phố N lập biên bản xử lý vi phạm về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Ngày 21/02/2011 bị UBND thành phố N ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, thời gian 24 tháng; Ngày 06/11/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong ngày 08/3/2016; Bản án số 18/2022/HSPT ngày 18/02/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/9/2021, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Khánh Hòa, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Phạm Thành N:

1. Luật sư Nguyễn Thị Thu Hiền – Văn phòng luật sư Khả N, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt)

2. Luật sư Lê Văn Tuấn – Văn phòng luật sư Lê Văn Tuấn & Cộng sự, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt)

* Người bị hại: Anh Trần Quốc H, sinh năm 2002 Địa chỉ: A3/28 Chung cư A, KDC M, phường 3, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

* Người làm chứng:

1. Trần Anh A; Nơi ĐKNKTT: Thôn Đ, xã N, thị xã N, Khánh Hòa. Chỗ ở hiện nay: Thôn V, Đ, xã V, tp N. (Vắng mặt)

2. Nguyễn Thị Tú A1; Nơi ĐKNKTT: Thôn Đ, xã N, thị xã N, Khánh Hòa. Chỗ ở hiện nay: 46A C, xã V, tp N, Khánh Hòa. (Vắng mặt)

3. Nguyễn Hoàng N1; Nơi ĐKNKTT: Thôn N, xã N, thị xã N, Khánh Hòa. Chỗ ở hiện nay: Phòng 12A Tầng 18 tòa B2 Chung cư H, xã V, Tp. N, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt)

4. Lê Nguyễn Hoài T; Trú tại: Tổ 6 P, phường P, tp N, Khánh Hòa. (Vắng mặt)

5. Phạm Thị L Nơi ĐKNKTT: Thôn L, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Chỗ ở hiện nay: 105/24 L, phường N,Tp. N, Khánh Hòa. (Vắng mặt)

6. Nguyễn Hữu D Nơi ĐKNKTT: Thôn N, phường C, Tp. C, Khánh Hòa. Chỗ ở hiện nay: 07 P, tổ 16, phường V, Tp. N, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt)

7. Nguyễn Hoa T Nơi ĐKNKTT: Thôn T, xã N, thị xã N, Khánh Hòa. Chỗ ở hiện nay: 46 đường C, xã V, tp N. (Vắng mặt)

8. Trần Hoàng Yến N Nơi ĐKNKTT: Thôn L, phường C, Tp. C, Khánh Hòa. Chỗ ở hiện nay: Thôn V, xã V, tp N, Khánh Hòa. (Có mặt)

9. Đặng Xuân T Trú tại: Thôn T, xã V, huyện V, Khánh Hòa. (Vắng mặt)

10. Võ Thị Ngọc H Nơi ĐKNKTT: Thôn S, xã N, thị xã N, Khánh Hòa. Chỗ ở hiện nay: 120/34 N, phường L, Tp. N, Khánh Hòa. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 00 giờ 45 phút ngày 13/4/2021, trong lúc ngồi chơi tại vũ

trường L, địa chỉ: số 42 T, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, Lê Thanh B (Sắt), sinh năm: 2000; Trú tại: Thôn V, xã V, thành phố N, Khánh Hòa cùng Phạm Thành N (N Nhóc), sinh năm: 1994; Trú tại: Tổ 14 N, phường N, thành phố N có mâu thuẫn với Trần Quốc H, sinh năm: 2002; Trú tại A3/28 Chung cư A, KDC M, Phường 3, Quận B, TP Hồ Chí Minh (Chỗ ở: đường C, phường V, thành phố N) đang ngồi chơi tại vũ trường L, giữa H và B xảy ra xô xát với nhau nhưng được bảo vệ vũ trường can ngăn nên hai bên dừng lại. Sau đó, nhóm B tính tiền ra về. Đến khoảng 01 giờ 30 phút cùng ngày, B rủ N quay lại để tìm H đánh trả thù thì N đồng ý. N điều khiển xe máy chở B về nhà của B tại Thôn V, xã V để lấy một cây “đao tự chế” dài khoảng 50cm. Khi N chở B đến trước vũ trường L thì N ở ngoài đợi, còn B một mình cầm cây “đao” đi vào bên trong vũ trường tìm H. Khi B mở cửa vào, thấy H đang ngồi ở bàn Vip 14 quay lưng về hướng cửa ra vào thì B đứng phía sau dùng “đao tự chế” bằng tay phải chém một nhát từ trên xuống, từ trái qua phải trúng vào vùng sau cổ của H, B tiếp tục chém một nhát nữa thì do H giật mình cúi đầu về phía trước nên trúng vào khuỷu tay trái. Sau đó, B cầm dao tự chế chỉ về phía H nói “tao đánh cho mày nhớ”, thì nhóm bạn của H đứng lên, B cầm “đao tự chế” chạy ra ngoài được N chờ sẵn chở đi đến Karaoke C. B tự lấy xe đi về và vứt dao tự chế xuống khu vực cầu P. Sáng hôm sau, B và N nghe tin tức thì bỏ trốn. Hiện hung khí của vụ án vẫn chưa truy tìm được.

Tại Bản kết luận giám định Pháp y về thương tích số 158/TgT-TTPY ngày 06/5/2021 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Khánh Hòa kết luận thương tích của Trần Quốc H:

- Vùng cổ sau có 01 vết sẹo kích thước 09cm x 0.2cm; Tỷ lệ thương tật: 04%

- Vùng khuỷu tay trái có 01 vết sẹo kích thước 1.5cm x 0.3cm. Tỷ lệ thương tật: 01%

- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 5%.

Theo Cáo trạng số 103/CT-VKSKH-P1 ngày 12 tháng 9 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã truy tố các bị cáo Lê Thanh B và Phạm Thành N về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15, Điều 54, khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự 2015; xử phạt bị cáo Lê Thanh B từ 06 (sáu) năm đến 07 (bảy) năm tù, bị cáo Phạm Thành N từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Lê Thanh B và Phạm Thành N đã bồi thường số tiền 110.000.000đ (một trăm mười triệu đồng) cho người bị hại Trần Quốc H. Tại phiên tòa ông Trần Quốc H không yêu cầu các bị cáo Lê Thanh B và Phạm Thành N bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét;

Vật chứng: Bị cáo Lê Thanh B đã vứt dao tự chế xuống khu vực cầu P nên không truy thu được vật chứng của vụ án.

Luật sư Nguyễn Thị Thu Hiền bào chữa cho các bị cáo Lê Thanh B và Phạm Thành N phát biểu: hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015. Luật sư Hiền thống nhất với ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Luật sư Lê Văn Tuấn bào chữa cho bị cáo Phạm Thành N phát biểu: hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015. Luật sư Tuấn thống nhất với ý kiến luận tội của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa. Bị cáo N đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại và người bị hại đã có đơn xin bãi nại nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Phạm Thành N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Các người làm chứng Trần Anh A, Nguyễn Thị Tú A1, Nguyễn Hoàng N, Lê Nguyễn Hoài T, Phạm Thị L, Nguyễn Hữu D, Nguyễn Hoa T, Đặng Xuân T và Võ Thị Ngọc H vắng mặt tại phiên tòa nhưng trước đó đã có lời khai ở Cơ quan điều tra thì chủ tọa phiên tòa công bố những lời khai đó. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Thanh B và Phạm Thành N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo như nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã truy tố đối với các bị cáo. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, các người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã được xét hỏi tại phiên tòa.

Do mâu thuẫn nhỏ trong lúc vui chơi tại Vũ trường L Nha Trang giữa bị cáo Lê Thanh B với người bị hại Trần Quốc H. Bị cáo Lê Thanh B đã rủ bị cáo Phạm Thành N chở đi từ Karaoke C đường V, thành phố N về nhà tại Thôn V, xã V, thành phố N để lấy hung khí là đao tự chế, sau đó chở xuống lại Vũ trường L để đánh Trần Quốc H thì bị cáo Phạm Thành N đồng ý. Bị cáo Lê Thanh B là người trực tiếp sử dụng một cây “đao tự chế” dài khoảng 50cm (hung khí nguy hiểm) bất ngờ từ phía sau chém 02 nhát liên tiếp vào vùng cổ của Trần Quốc H (vùng trọng yếu của cơ thể), trong đó 01 nhát trúng vào vùng cổ sau đầu và 01 nhát do Trần Quốc H giật mình cuối đầu về phía trước đồng thời đứng lên nên trúng khủy tay trái với tỷ lệ: Vùng cổ sau có 01 vết sẹo kích thước 09cm x 0.2cm; Tỷ lệ thương tật: 04%. Vùng khuỷu tay trái có 01 vết sẹo kích thước 1.5cm x 0.3cm; Tỷ lệ thương tật: 01%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Quốc H là: 05%. Hành vi của các bị cáo Lê Thanh B và Phạm Thành N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015 và thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt được quy định tại Điều 15 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Do đó, Cáo trạng số 103/CT-VKSKH-P1 ngày 12 tháng 9 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã truy tố các bị cáo Lê Thanh B và Phạm Thành N về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét vai trò phạm tội và mức độ chịu trách nhiệm hình sự của từng bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn trong đó bị cáo Lê Thanh B là người khởi xướng việc gây thương tích cho anh Trần Quốc H và bị cáo Phạm Thành N là người giúp sức rất tích cực cho bị cáo Lê Thanh B để thực hiện hành vi của bị cáo B. Do vậy, bị cáo Lê Thanh B phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn so với bị cáo Phạm Thành N nhưng do bị cáo Phạm Thành N có nhiều nhân thân đặc biệt xấu. Do đó, các bị cáo Lê Thanh B, Phạm Thành N phải chịu trách nhiệm hình sự ngang nhau là phù hợp với các quy định của pháp luật.

Đánh giá tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo một mức hình phạt nghiêm khắc mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại; người bị hại đã có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử nghĩ nên xem xét và giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 để bị cáo an tâm cải tạo sớm trở thành công dân tốt và có ích cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Lê Thanh B và Phạm Thành N đã bồi thường số tiền 110.000.000đ (một trăm mười triệu đồng) cho người bị hại Trần Quốc H. Tại phiên tòa ông Trần Quốc H không yêu cầu các bị cáo Lê Thanh B và Phạm Thành N bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Bị cáo Lê Thanh B đã vứt dao tự chế xuống khu vực cầu Phong Châu nên không truy thu được vật chứng của vụ án.

Về án phí: Các bị cáo Lê Thanh B và Phạm Thành N mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123, điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15, khoản 3 Điều 57, khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự 2015; Điều 136, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đối với các bị cáo Lê Thanh B và Phạm Thành N.

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

* Xử phạt:

1. Bị cáo Lê Thanh B 09 (chín) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giam 07/9/2021.

2. Bị cáo Phạm Thành N 09 (chín) năm tù về tội “Giết người”. Tổng hợp với hình phạt 01 (một) năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ” của Bản án số 18/2022/HSPT ngày 18/02/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa. Buộc bị cáo Phạm Thành N phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giam 08/9/2021.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Trần Quốc H không có yêu cầu gì thêm về vấn đề bồi thường đối với các bị cáo Lê Thanh B và Phạm Thành N nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Các bị cáo Lê Thanh B và Phạm Thành N mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ