- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Đỗ H phạm tội "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ H phạm tội "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 341 Bộ luật Hình sự; Điều 36 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. THANH KHÊ -TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 120/2022/HS-ST Ngày 29.9.2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Minh Thân, nghề nghiệp: Hưu trí;
- Bà Lê Thị Nhớ, nghề nghiệp: Hưu trí.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Yên Thảo - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Anh - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 102/2022/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ H, tên gọi khác: Không, sinh ngày 12/02/1988 tại Đà Nẵng; Nơi ĐKHKTT: Tổ 81 phường M, quận C, thành phố Đà nẵng; Nơi cư trú hiện nay: Tổ 44 phường Đ, quận K, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Công nhân. Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Đỗ C (chết) và bà Nguyễn Thị B; có vợ là Nguyễn Thị Thanh P, sinh năm 1987 và có 02 con, con nhỏ sinh năm 2018, con lớn sinh năm 2013.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1
Vào tháng 01/2019, Đỗ H có nhu cầu đi lại bằng xe mô tô nhưng chưa có giấy phép lái xe và muốn đối phó với cơ quan chức năng khi bị kiểm tra nên đặt làm giả 01 giấy phép lái xe hạng A1 với số tiền 1.700.000 đồng; H cung cấp hình ảnh và thông tin cá nhân cho người thanh niên (không rõ lai lịch, địa chỉ) tại quán cà phê thuộc Khu công nghiệp K, quận C, thành phố Đà Nẵng. Khoảng 15 ngày sau, H nhận được giấy phép lái xe và sử dụng để tham gia giao thông.
Vào lúc 21 giờ ngày 17/4/2022, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 43F1-50194 đi đến trước số nhà 1577 đường T, phường T, quận K, thành phố Đà Nẵng gặp Tổ tuần tra giao thông tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện H điều khiển xe mô tô khi có nồng độ cồn trong máu, không có giấy phép lái xe, không có giấy đăng ký xe tham gia giao thông và không có giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực nên tiến hành tạm giữ xe lập hồ sơ xử lý.
Đến ngày 27/4/2022, H đến Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an quận K để làm việc liên quan đến vi phạm nêu trên. Để bỏ qua lỗi điều khiển xe không có giấy phép lái xe theo quy định nên H xuất trình 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 481191001637 do Sở Giao thông vận tải thành phố Đà Nẵng cấp ngày 25/01/2019 mang tên Đỗ H để cán bộ kiểm tra. Qua làm việc, H khai giấy phép lái xe trên là giả.
Vật chứng tạm giữ: 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 481191001637 do Sở Giao thông vận tải thành phố Đà Nẵng cấp ngày 25/01/2019 mang tên Đỗ H (kèm theo hồ sơ vụ án)
Theo Công văn số 1661/SGTVT-QTVT PTNL ngày 09/5/2022 của Sở Giao thông vận tải thành phố Đà Nẵng xác nhận: Không cấp giấy phép lái xe hạng A1 số 481191001637 cho ông Đỗ H; sinh ngày: 12/02/1988, trú: Tổ 81, phường M, quận C, thành phố Đà Nẵng.
Theo Kết luận giám định số 50/GĐ-TL ngày 16/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng xác định: 01 “Giấy phép lái xe/Driver’s License” số/No 48119100163 hạng A1 mang tên Đỗ H, ghi cấp ngày 25 tháng 01 năm 2019, ký hiệu A là giả.
Bản Cáo trạng số 101/CT-VKS ngày 08/9/2022, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Đỗ H về tội "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức" theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố Nhà nước trình bày luận tội đã giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ H phạm tội "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức" và áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Đỗ H từ 06 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
.
2
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết việc làm của các bị cáo là vi phạm pháp luật, thực sự hối hận về hành vi đã thực hiện, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Điều tra viên cũng như Kiểm sát viên đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ mà pháp luật quy định. Các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố là hợp pháp được chấp nhận để làm cơ sở giải quyết vụ án.
Về nội dung giải quyết vụ án: Qua xem xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào đầu năm 2019, bị cáo Đỗ H đã cung cấp các thông tin và tài liệu cho một đối tượng ngoài xã hội để làm 01 Giấy phép lái xe hạng A1 giả. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại Điều 341 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người có trình độ học vấn nhất định và nhận thức được hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Vào tháng 01/2019, bị cáo có hành vi cung cấp thông tin cá nhân cho người một người thanh niên đặt làm giả giấy phép lái xe hạng A1 để sử dụng điều khiển xe mô tô do chưa có giấy phép lái xe theo quy định. Khi sử dụng Giấy phép lái xe giả đó để điều khiển phương tiện tham gia giao thông thì bị cáo bị Đội CSGT trật tự, Công an quận K phát hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm và ảnh hưởng trực tiếp đến trật tự quản lý hành chính của các cơ quan Nhà nước và đã phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”, quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy phải xử phạt bị cáo hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt.
3
Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo có nhân thân tốt. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử miễn khấu trừ thu nhập trong thời gian chấp hành án.
Trong vụ án có đối tượng đã làm giả giấy phép lái xe hạng A1 cho Đỗ H, quá trình điều tra vẫn chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ H phạm tội "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
2. Căn cứ: Khoản 1 Điều 341; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ H 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được Quyết định Thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo về Uỷ ban nhân dân phường Đ, quận K, thành phố Đà Nẵng để giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
Bị cáo được miễn khấu trừ thu nhập trong thời gian chấp hành án và phải thực hiện những nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hánh án hình sự.
Bị cáo tiếp tục chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến khi có Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đỗ H phải chịu 200.000đ.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND quận Thanh Khê; - VKSND TP Đà Nẵng; - Tòa án nhân dân TP Đà Nẵng; - Sở tư pháp TP. Đà Nẵng; - Chi cục THADS quận Thanh Khê; - Cơ quan điều tra CA quận Thanh Khê; - Cơ quan THAHS CA quận Thanh Khê; - Lưu hồ sơ vụ án. 4 | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Ngọc Cƣờng |