- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Đoàn Thị L, buộc vợ chồng Ông Huỳnh Công Đ, bà Trịnh Hoàng O phải có nghĩa vụ trả cho vợ chồng Bà Đoàn Thị L, Ông Lâm Hoàng D 07 chỉ vàng 24, tương đương với số tiền 35.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 120/2022/DS-ST Ngày: 22 – 9 – 2022 V/v tranh chấp Hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vinh Thắng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Sơn;
Bà Tăng Thị Bạch Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Luyến-Thẩm Tra viên Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 22 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 251/2022/TLST-DS, ngày 29 tháng 7 năm 2022, về tranh chấp Hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 279/2022/QĐXXST-DS, ngày 18 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 179/2022/QĐST-DS, ngày 29 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị L, sinh ngày 27/11/1981, địa chỉ: Số 231/5, ấp C, xã K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng;
- Bị đơn: Ông Huỳnh Công Đ, sinh năm 1976 và bà Trịnh Hoàng O, sinh năm 1978, cùng địa chỉ: Ấp C, xã K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lâm Hoàng D, sinh năm 1977, địa chỉ: Số 231/5, ấp C, xã K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, Ủy quyền tham gia tố tụng cho Bà Đoàn Thị L, theo Giấy ủy quyền ngày 16/8/2022.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo Đơn khởi kiện ngày 21/7/2022, Biên nhận ngày 23/6/2017 và các tài liệu chứng cứ khác trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của đương sự, Bà Đoàn Thị L trình bày:
Nguyên vào ngày 23 tháng 6 năm 2017 âm lịch, vợ chồng Ông Huỳnh Công Đ, bà Trịnh Hoàng O có vay của bà số vàng 07 chỉ vàng 24K, để tiêu dùng trong gia đình và có hứa trả lãi hàng tháng, lãi suất hai bên tự thỏa thuận, khi vay Ông Đ, bà O có viết biên nhận nợ cho bà. Từ khi vay đến nay, Ông Đ, bà O không trả lãi cho bà theo thỏa thuận, bà đã nhiều lần yêu cầu Ông Đ, bà O trả lãi nhưng không trả.
Nay bà yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Kế Sách giải quyết như sau: Buộc Ông Huỳnh Công Đ và bà Trịnh Hoàng O cùng trả cho bà 07 chỉ vàng 24K, tạm tính thành tiền là: 5.070.000 đồng/chỉ x 7 chỉ = 35.490.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật, từ khi vay, ngày ngày 23 tháng 9 năm 2021, đến khi xét xử sơ thẩm.
*Bị đơn vợ chồng Ông Huỳnh Công Đ và bà Trịnh Hoàng O không tham gia tố tụng và không có ý kiến gì trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Đoàn Thị L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Tại phiên tòa, nguyên đơn không rút lại đơn khởi kiện, các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Về tố tụng:
Tại phiên tòa, bị đơn Ông Huỳnh Công Đ và bà Trịnh Hoàng O đều vắng mặt đến lần thứ hai, không rõ lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, cho nên, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các bị đơn. Nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện là chỉ yêu cầu bị đơn trả 07 chỉ vàng 24K, không yêu cầu tính lãi. Xét việc thay đổi yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn là không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 71 và khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về nội dung:
Theo Biên nhận ngày 23/6/2017 của nguyên đơn cung cấp thể hiện nội dung: Tôi tên Huỳnh Công Đ cùng vợ Trịnh Hoàng Oanh, ĐKTT ấp Cầu Chùa, xã Kế An. Hôm nay, ngày 23/6/2017 âm lịch, vợ chồng tôi có hỏi mượn của cháu Danh, Kế An số vàng 07 chỉ 24K, về lãi suất do chúng tôi thỏa thuận, vợ chồng tôi hứa vài tháng trả số vàng trên. Bên dưới có ký và ghi tên người viết Huỳnh Công Đ.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, thông báo cho bị đơn biết về việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu trả 07 chỉ vàng 24K, tương đương số tiền 35.490.000 đồng. Tuy nhiên, bị đơn không đến Tòa án làm việc và cũng không gửi bất kì văn bản nào trình bày ý kiến của mình, cũng như không phản đối những tình tiết, sự kiện mà nguyên đơn đưa ra. Căn cứ vào Biên nhận nêu trên, có căn cứ xác định bị đơn có mượn của nguyên đơn 07 chỉ vàng 24K, đến nay bị đơn vẫn chưa trả cho nguyên đơn.
Tại Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:“Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và phải chịu lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định”. Theo khoản 1 Điều 466 của Bộ luật này quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn…”.
Tại khoản 4 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định nghĩa vụ trả nợ của bên vay:“4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”.
Căn cứ vào các quy định nêu trên, khoản 2 Điều 92 và Điều 93 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện Bà Đoàn Thị L, buộc vợ chồng Ông Huỳnh Công Đ và bà Trịnh Hoàng O phải có nghĩa vụ trả 07 chỉ vàng 24K, tương đương với số tiền là 35.490.000 đồng (tính theo giá vàng 24K hiện nay là 5.070.000 đồng/chỉ).
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận, nên nguyên đơn không phải chịu án phí và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- Bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch là 35.490.000 đồng x 5% = 1.774.500 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 92, Điều 93, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 244, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 280, 357, 166, 463, 466 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Đoàn Thị L, buộc vợ chồng Ông Huỳnh Công Đ, bà Trịnh Hoàng O phải có nghĩa vụ trả cho vợ chồng Bà Đoàn Thị L, Ông Lâm Hoàng D 07 chỉ vàng 24, tương đương với số tiền 35.490.000 đồng.
2. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả lãi cho người được thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, đối với số tiền chậm thi hành án.
3. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Buộc vợ chồng Ông Đ, bà O phải chịu 1.774.500 đồng.
- Bà L không phải chịu và được nhận lại số tiền tạm ứng đã nộp 887.250 đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003991, ngày 29/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
4. Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm, đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn này tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Kế Sách; - Các đương sự; - Chi cục THADSH Kế Sách (khi đã có hiệu lực); - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Trần Vinh Thắng |