- Tranh chấp gì? án hình sự — "cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Căn c Điều 106; Điều 268, Điều 292, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự
- Căn cứ chính? Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 91 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 120/2019/HSST Ngày : 22/10/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thành Lân – Giáo viên hƣu trí
2. Bà Nguyễn Thị Phƣợng Quyên – Nguyên giáo viên Trƣờng Hoàng Hoa
Thám, quận Tân Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Oanh – Thƣ ký Tòa án nhân dân quận Tân
Bình, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí
Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Tố Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình,
Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:
120/2019/TLST-HS ngày 20 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử
số: 144/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:
NGUYỄN THANH H sinh ngày 16 tháng 4 năm 2001 tại Thành phố Hồ
Chí Minh. Nơi đăng ký thƣờng trú: 17 Đƣờng Q, phƣờng W, quận E, TP.Hồ Chí
Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam;
tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; tên cha: Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1975,
tên mẹ: Lê Thị Thu H1, sinh năm 1972; vợ, con: không; tiền án, tiền sự: không;
tạm giữ, tạm giam: 20/5/2019 (có mặt)
TRƢƠNG QUỐC B sinh ngày 17 tháng 3 năm 2000 tại Thành phố Hồ Chí
Minh. Nơi đăng ký thƣờng trú: 125 Đƣờng R, phƣờng T, quận Y, TP.Hồ Chí
Minh; nơi cƣ trú: 762/40/51 Đƣờng U, phƣờng I, quận O, TP.Hồ Chí Minh; nghề
nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo:
Phật; quốc tịch: Việt Nam; tên cha: Trƣơng N, sinh năm 1952, tên mẹ: Lê Thị M,
sinh năm 1962; vợ, con: không; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam:
20/5/2019 (có mặt).
TRỊNH VĂN T1 sinh ngày 15 tháng 9 năm 1990 tại Đồng Tháp. Nơi đăng
ký thƣờng trú: Ấp 2, xã T2, huyện H2, tỉnh Đồng Tháp; nơi cƣ trú: 681/24/11
Đƣờng P, phƣờng T3, quận E, TP.Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học
vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; tên cha: Trịnh Văn C, sinh năm 1960, tên mẹ: Nguyễn Thị M1, sinh năm 1962; vợ: Lê Thị H3, sinh năm 1997, con sinh năm 2017; tiền án: Ngày 26/01/2010 Tòa án nhân dân quận Y, TP.Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Cƣớp giật tài sản” chấp hành xong hình phạt ngày 02/10/2012, Ngày 25/02/2014 Tòa án nhân dân tỉnh Long An xử phạt 07 năm tù về tội “Cƣớp giật tài sản” chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/01/2019, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 30/6/2004 Công an quận Y bắt về hành vi “Cƣớp giật tài sản”, kết quả giám định xƣơng tại thời điểm thực hiện hành vi, T1 có độ tuổi là 13 tuổi 11 tháng đến 14 tuổi 4 tháng, theo nguyên tắc có lợi, vào thời điểm thực hiện hành vi cƣớp giật T1 có độ tuổi là 13 tuổi 11 tháng chƣa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, ngày 30/12/2004 Ủy ban nhân dân quận Y, TP.Hồ Chí Minh ra Quyết định số 44/QĐ-UB đƣa T1 vào Trƣờng giáo dƣỡng số 4 thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 30/10/2006; tạm giữ, tạm giam: 20/5/2019 (có mặt)
TẠ HOÀNG T2 sinh ngày 02 tháng 02 năm 2003 tại Thành phố Hồ Chí
Minh. Nơi đăng ký thƣờng trú: 737/97 Đƣờng R, phƣờng T, quận Y, TP.Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; tên cha: Tạ Văn Th, sinh năm 1968, tên mẹ: Nguyễn Thị Hi, sinh năm 1970; vợ, con: không; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: 20/5/2019 (có mặt)
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Tạ Hoàng T2: Bà Nguyễn Thị Hiệp,
sinh năm 1970 (có mặt)
Nơi đăng ký HKTT: 737/97 Đƣờng R, phƣờng T, quận Y, TP.Hồ Chí Minh
Người bào chữa cho bị cáo Tạ Hoàng T2: Bà Trần Đồng Minh Ngọc Kim
Kh – Cộng tác viên Trung tâm trợ giúp Pháp lý Nhà nƣớc TP.Hồ Chí Minh (có mặt)
- Bị hại:
Anh Hà Thái D, sinh năm 1997 (vắng mặt)
Nơi đăng ký HKTT: 126/57/8/19 Phƣờng F, thành phố BM, tỉnh Đắc Lắc
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị Hi, sinh năm 1970 (có mặt)
Nơi đăng ký HKTT: 737/97 Đƣờng R, phƣờng T, quận Y, TP.Hồ Chí Minh
2. Ông Lê Thanh D1, sinh năm 1994 (vắng mặt)
Nơi đăng ký HKTT: 116 Đƣờng R, phƣờng T, quận Y, TP.Hồ Chí Minh
3. Ông Trịnh Văn C, sinh năm 1960 (có mặt)
Nơi đăng ký HKTT: Ấp 2, xã T2, huyện H2, tỉnh Đồng Tháp
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Nguyễn Thanh H, Trƣơng Quốc B, Trịnh Văn T1 và Tạ Hoàng T2 có mối
quan hệ quen iết. Khoảng 04 giờ 00 ngày 20/5/2019, H gọi điện thoại cho T2 đến nhà chở H đến Cửa hàng Mini Stop trên đƣờng Đƣờng Tr, phƣờng W, quận E. Khi H đang đi ộ t nhà ra đƣờng, T2 điều khiển xe gắn máy hiệu Exciter màu đen ạc biển số 59 1 – 791.16 đến chở H, trên đƣờng đi, H rủ T2 đi cƣớp giật tài sản, T2 đồng ý, cả hai đến Cửa hàng Mini Stop gặp B đang ngồi uống nƣớc bên trong, H
rủ B đi cƣớp giật tài sản, B đồng ý. Do điện thoại hết pin nên H mƣợn điện thoại
của T2 liên lạc rủ T1 đi cƣớp giật tài sản, T1 đồng ý. B điều khiển xe gắn máy
Exciter biển số 59P1 – 418.01 đến trƣớc nhà số 681/24/11 Đƣờng P, phƣờng K,
quận E đón T1, T2 điều khiển xe chở H cùng đi nhƣng đ ng ở đầu h m gần nhà
của T1 chờ. T1 mang theo 01 bình xịt hơi cay để trong túi quần bên phải với mục
đích sử dụng nếu có ngƣời cản trở hay truy đuổi, B chở T1 ra đầu h m gặp T2 và
H. Sau đó, tất cả chạy qua nhiều tuyến đƣờng để kiếm ngƣời có tài sản sở hở cƣớp
giật.
Đến khoảng 05 giờ 00 phút cùng ngày, khi đến ngã a đƣờng Đƣờng P –
Đƣờng Đ, B nhìn thấy anh Hà Thái D đ ng trƣớc số nhà 786 Đƣờng P, phƣờng V,
quận Y (hƣớng đƣờng Đƣờng Đ) sử dụng điện thoại di động hiệu OPPO nên B
vòng xe lại, T1 hỏi “Cái gì vậy”, B nói “Có cái máy”, T1 nhìn thấy anh D sử dụng
điện thoại nên nói “Đánh đi” (có nghĩa là nói B cƣớp giật điện thoại di động). B
điều khiển xe d ng lại tại trƣớc số 786 Đƣờng P, phƣờng V, quận Y (hƣớng đƣờng
Đƣờng P) để quan sát, T2 và H chạy ở phía sau để cảnh giới ngƣời qua lại. Sau khi
quan sát, T1 nói với B “Đánh đi”, B tăng ga rẽ phải về phía đƣờng Đƣờng Đ, áp
sát ngƣời anh D để T1 ngồi sau dùng tay phải giật điện thoại di động rồi tăng ga
bỏ chạy, T1 cất chiếc điện thoại v a giật đƣợc vào túi quần ên phải, anh D truy
hô chạy bộ đuổi theo, Tạ Hoàng T2 điều khiển xe chạy lên, H ngồi sau dùng bình
xịt hơi cay xịt vào mặt làm cho anh D không thể đuổi theo. B tăng ga chở T1 bỏ
chạy, cùng lúc Tổ tuần tra của Đội cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội của
Công an quận Tân Bình đang tuần tra phát hiện đuổi theo khoảng 50 m t thì xe
của B ị ngã, chiếc điện thoại trong túi quần của T1 văng ra làm kính màn hình ị
ể, cả hai bỏ xe chạy bộ đến trƣớc nhà địa chỉ số 15-17 Đƣờng BC7, phƣờng V,
quận Y thì bị bắt giữ cùng tang vật và phƣơng tiện. Đối với T2 chở H chạy đƣợc
vài m t đến trƣớc vỉa h ên h ng nhà số 788 Đƣờng P thì bị ngƣời dân truy đuổi,
đụng vào xe làm t ngã. Ngƣời dân và Tổ tuần tra giao H, T1, B và Thạch cùng
tang vật và phƣơng tiện cho C ng an phƣờng 14, quận Tân Bình xử lý.
Quá trình điều tra, H, B, T1 và T2 khai nhận cùng nhau thực hiện hành vi
cƣớp giật tài sản nhƣ nêu trên, kh ng có sự àn ạc, phân c ng vai trò cụ thể, cả
04 ị can tự hiểu “ngƣời nào phát hiện tài sản trƣớc sẽ là ngƣời trực tiếp giật,
ngƣời còn lại làm vai trò cản địa”, do trƣớc đây đã cùng nhau thực hiện hai vụ
cƣớp giật tài sản, các ị can kh ng àn ạc về việc hành hung để tẩu thoát, T1 và
H mang theo ình xịt hơi cai kh ng th ng áo cho các ị can còn lại iết, việc H
dùng ình xịt hơi cai xịt vào mặt ị hại, các ị can còn lại kh ng iết, Thạch xác
định việc điều khiển xe chạy lên mục đích để cản ngƣời ị hại truy đuổi. B và T1
cùng phát hiện ị hại.
Tiến hành khám x t nơi ở của B, T1, T2 và H kết quả không tạm giữ đồ vật,
tài liệu liên quan.
Tiến hành kiểm tra dữ liệu do camera ghi lại, kết quả: B xác nhận là ngƣời
điều khiển xe chở T1 áp sát ị hại để T1 ngồi sau cƣớp giật điện thoại của anh Hà
Thái D; T1 xác nhận là ngƣời ngồi sau xe do B điều khiển rồi dùng tay phải giật
chiếc điện thoại trên tay của anh D; T2 xác nhận là ngƣời điều khiển xe chở H
chạy theo phía sau xe của B và T1 làm nhiệm vụ cản địa; H xác nhận là ngƣời ngồi sau xe do T2 điều khiển, H sử dụng bình xịt hơi cay xịt vào anh D để ngăn cản sự truy đuổi.
Kết quả B, T1, T2 và H xác định địa điểm thực hiện hành vi cƣớp giật tài
sản tại trƣớc số 786 Đƣờng P, phƣờng V, quận Y – hƣớng đƣờng Đƣờng Đ; địa điểm d ng xe quan sát ị hại đang sử dụng điện thoại tại trƣớc số 786 Đƣờng P, phƣờng V, quận Y – hƣớng đƣờng Đƣờng P; địa điểm B và T1 bị bắt giữ tại trƣớc số 15-17 Đƣờng BC7, phƣờng V, quận Y; địa điểm Thạch và H bị bắt giữ tại trƣớc vỉa h ên h ng nhà số 788 Đƣờng P, phƣờng V, quận Y.
Tiến hành thực nghiệm điều tra dựng lại hiện trƣờng, B, T1, T2 và H diễn
lại hành vi d ng xe quan sát, thực hiện hành vi cƣớp giật điện thoại của anh Hà Thái D tại trƣớc số nhà 786 Đƣờng P, phƣờng V, quận Y (hƣớng đƣờng Đƣờng Đ), hành vi dùng ình xịt hơi cay xịt vào ngƣời ị hại, truy đuổi và ị ắt, kết quả thực nghiệm phù hợp với lời khai của các bị can, ị hại, nhân ch ng và các tài liệu, ch ng c khác đƣợc thu thập trong hồ sơ vụ án.
Bị hại là anh Hà Thái D xác định nhƣ nêu trên, sau khi ị B và T1 áp sát
giật đƣợc điện thoại, anh D truy h và đuổi theo thì ị Thạch điều khiển xe chở H ngồi sau cầm bình xịt hơi cay xịt thẳng vào mặt làm anh D bị cay mắt kh ng nhìn thấy, chỉ nghe tiếng truy hô bắt cƣớp của những ngƣời xung quanh. Sau đó anh D đƣợc mời về Cơ quan C ng an làm việc. Chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A33 màu xanh đen anh D mua vào năm 2018 mua lại của một ngƣời quen kh ng hóa đơn ch ng t với giá khoảng 2.000.000 đồng. Anh D không bị thƣơng tích, chỉ bị cay mắt nhƣng hiện nay đã ình thƣờng.
Ngoài ra, điều tra 02 vụ cƣớp giật tài sản trƣớc khi ị ắt mà các ị can khai
nhận, cụ thể nhƣ sau:
- Cách ngày bị bắt khoảng 01 tuần, H cùng T2 cƣớp giật 01 điện thoại di
động hiệu Iphone 6 của 01 ngƣời phụ nữ trƣớc số 6 Đƣờng X, phƣờng T, quận Y, H bán và chia cho T2 số tiền 600.000 đồng và đã tiêu xài hết. Bị hại kh ng trình áo, tài sản ị chiếm đoạt kh ng thu hồi do H không nhớ địa điểm án. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận Tân Bình đăng áo tìm ngƣời bị hại nhƣng kh ng có ngƣời đến trình áo, chỉ có lời khai do đó kh ng có cơ sở khởi tố điều tra đối với T2 và H về hành vi “Cƣớp giật tài sản”, kh ng có cơ sở xác định tiền thu lợi ất chính.
- Cách ngày bị bắt khoảng 01 tháng, B, T1, T2 và H cùng thực hiện giật 01
điện thoại di động và 01 sợi dây chuyền, chia mỗi ngƣời 1.000.000 đồng tiêu xài hết, các ị can kh ng xác định loại tài sản chiếm đoạt, địa điểm thực hiện hành vi, địa điểm án tài sản. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận Tân Bình đăng áo tìm ngƣời bị hại nhƣng kh ng có ngƣời đến trình áo, chỉ có lời khai do đó kh ng có cơ sở khởi tố điều tra đối với B, T1, T2 và H về hành vi “Cƣớp giật tài sản”, kh ng có cơ sở xác định tiền thu lợi ất chính.
Vật ch ng thu giữ:
- 01 USB màu trắng đỏ có chữ Apacer, ghi nhận lại diễn iến hành vi cƣớp
giật của các ị can, nhập kho vật ch ng.
- Thu giữ của Trương Quốc B:
+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7, k m theo sim số liên lạc
xxxxxxxxxx và 01 điện thoại di động hiệu NOKI , k m theo sim số liên lạc
xxxxxxxxxx, là tài sản cá nhân, kh ng liên quan vụ án, nhập kho vật ch ng.
+ 01 xe gắn máy hiệu Exciter màu đen iển số 59P1 – 418.01, là phƣơng
tiện B điều khiển chở T1 đi cƣớp giật tài sản. Đăng kí chủ xe là ng Lê Thanh D1.
Ông D1 và Trƣơng Quốc B đều xác định, khoảng tháng 06/2017, ng D1 án
chiếc xe trên cho B, do có quan hệ họ hàng nên kh ng làm thủ tục sang tên, ng
D1 kh ng có ý kiến đối với chiếc xe trên, nhập kho vật ch ng.
- Thu giữ của Trịnh Văn T1:
01 điện thoại di động hiệu Samsung J3 Pro màu bạc, kèm Sim có số liên
lạc xxxxxxxxxx, do v a ra tù, T1 mƣợn của cha ruột là ng Trịnh Văn C để sử
dụng, T1 sử dụng liên lạc rủ nhau “Cƣớp giật tài sản”, nhập kho vật ch ng.
+ 01 bình xịt hơi cay, 01 ngƣời ạn (kh ng xác định lai lịch) gửi, T1 sử
dụng chống trả nếu có ngƣời truy đuổi, nhập kho vật ch ng.
- Thu giữ của Tạ Hoàng T2:
01 điện thoại di động hiệu OPPO F1S màu hồng, kèm theo sim 1 số
xxxxxxxxxx, sim 2 số xxxxxxxxxx, là điện thoại di động của mẹ T2 là à Nguyễn
Thị Hiệp cho Thạch mƣợn chơi game, kh ng liên quan hành vi cƣớp giật tài sản,
nhập kho vật ch ng.
+ 01 xe gắn máy hiệu Exciter màu đen ạc biển số 59 1-791.16, là phƣơng
tiện T2 mƣợn của mẹ ruột là à Hiệp đi chơi, sau đó sử dụng làm phƣơng tiện đi
cƣớp giật. Đăng kí chủ xe là ng Trƣơng Tấn Tr. Ngày 12/01/2018, Lê VT, sinh
16/09/2001, ngƣời đại diện theo pháp luật là bà Bùi Thị Z mua chiếc xe trên có
Hợp đồng mua án, c ng ch ng. Khoảng tháng 03/2018, Thắng án xe cho ngƣời
bạn tên Thiện (không rõ lai lịch), viết giấy tay, hiện mất giấy mua án, Thắng
kh ng có ý kiến hay yêu cầu đối với chiếc xe trên. Bà Nguyễn Thị Hiệp mua xe
vào khoảng tháng 04/2018 qua mạng Internet của 01 ngƣời kh ng xác định lai
lịch, kh ng làm hợp đồng mua, bán. Bà Hiệp không biết Thạch sử dụng xe làm
phƣơng tiện đi cƣớp giật tài sản, nhập kho vật ch ng.
- Thu giữ của Nguyễn Thanh H:
01 điện thoại di động hiệu Iphone màu bạc, kèm sim số xxxxxxxxxx, là
tài sản của H, nhập kho vật ch ng.
01 điện thoại di động hiệu màu đen, H mƣợn của T2 để gọi rủ T1 đi cƣớp
giật tài sản, H giữ điện thoại đến khi bị bắt, nhập kho vật ch ng.
+ 01 bình xịt hơi cay, H mua trên mạng alo, kh ng xác định lai lịch ngƣời
bán, H sử dụng chống trả nếu có ngƣời truy đuổi, nhập kho vật ch ng.
Tài sản bị chiếm đoạt: Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số
143/HĐĐGTS-TTHS ngày 10/07/2019: 01 điện thoại di động hiệu OPPO A33
màu xanh đen, ể kính màn hình, có giá trị là 1.500.000 đồng, trả lại cho ị hại là
anh Hà Thái D, anh D nhận lại tài sản, kh ng thắc mắc, khiếu nại.
Tại bản cáo trạng số 119/CT-VKS ngày 01 tháng 8 năm 2019, Viện kiểm sát
nhân dân quận Tân Bình đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh H, Trƣơng Quốc B, Trịnh Văn T1, Tạ Hoàng T2 về tội “Cƣớp giật tài sản” theo khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, th a nhận hành vi phạm
tội và khai giống lời khai tại cơ quan điều tra.
Sau phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình vẫn giữ
nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Thanh H về tội “Cƣớp giật tài sản” theo điểm d, đ khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Trịnh Văn T1 về tội “Cƣớp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017, truy tố bị cáo Trƣơng Quốc B và Tạ Hoàng T2 về tội “Cƣớp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017. Đồng thời đề nghị xử phạt bị cáo H m c án t
04 đến 05 năm tù, xử phạt bị cáo B t 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù, xử phạt bị cáo T1 m c án t 07 đến 8 năm tù, xử phạt bị cáo T2 m c án t 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; về vật ch ng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định.
Ngƣời ào chữa cho ị cáo T2 thống nhất với truy tố của Viện kiểm sát
nhân dân quận Tân Bình; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo đƣợc hƣởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017 do gia đình có hoàn cảnh khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc
tranh tụng tại phiên tòa, nhận định nhƣ sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố các ị cáo Nguyễn Thanh H, Trƣơng
Quốc B, Trịnh Văn T1, Tạ Hoàng T2, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra C ng an quận Tân Bình đƣợc phân c ng điều tra giải quyết vụ án, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đƣợc phân c ng thực hành quyền c ng tố và kiểm sát điều tra đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn c quá trình điều tra, truy tố, diễn iến tại phiên tòa, th ng qua phần tranh tụng tại phiên tòa, ị cáo, ị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kh ng có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, x t xử. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các ị cáo: Căn c các tài liệu, ch ng c có
trong hồ sơ vụ án, diễn iến tại phiên tòa th ng qua lời khai của các ị cáo, ị hại, lời khai của ngƣời làm ch ng cùng tang vật, các tài liệu ch ng c khác thu đƣợc trong hồ sơ vụ án thì vì mục đích tƣ lợi, Nguyễn Thanh H là ngƣời trên 18 tuổi rủ Trƣơng Quốc B, Trịnh Văn T1 và Tạ Hoàng T2 cùng nhau thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, trong đó Thạch là ngƣời dƣới 18 tuổi, cụ thể: khoảng 05 giờ ngày 20/5/2019 tại trƣớc số nhà 786 Đƣờng P, phƣờng V, quận Y, B có vai trò cung cấp, điều khiển phƣơng tiện, chở T1 áp sát ị hại là anh Hà Thái D vào để T1 ngồi
sau giật đƣợc điện thoại di động hiệu OPPO của anh D đang cầm trên tay, tài sản
có trị giá 1.500.000 đồng. T2 có vai trò cung cấp và điều khiển phƣơng tiện chở H
chạy theo sau B và T1, khi anh D bị giật điện thoại chạy bộ đuổi theo, T2 chở H
chạy lên để cản địa, H ngồi sau dùng bình xịt hơi cay xịt vào anh D để ngăn cản sự
truy đuổi.
Xét hành vi phạm tội của các ị cáo là nguy hiểm cho xã hội, kh ng những
trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của công dân đƣợc
pháp luật và Nhà nƣớc B vệ mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phƣơng. Bản
thân các ị cáo nhận th c đƣợc hành vi của mình là vi phạm pháp luật, có năng lực
trách nhiệm hình sự, phạm tội do lỗi cố ý nên x t thấy đã đủ cơ sở pháp lý để kết
luận các ị cáo đã phạm vào tội “Cƣớp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt đƣợc
quy định Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Các bị cáo sử dụng xe gắn máy làm phƣơng tiện cƣớp giật tài sản là nguồn
nguy hiểm cao độ làm phƣơng tiện phạm tội tiềm ẩn nguy cơ gây tai nạn giao
thông, nguy hiểm đến tính mạng, s c khỏe của chính bị cáo và những ngƣời đang
lƣu th ng trên đƣờng là thuộc trƣờng hợp “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” là tình tiết
định khung hình phạt theo quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự
năm 2015, sửa đổi, ổ sung năm 2017.
Đối với bị cáo H là ngƣời dùng ình xịt hơi cay xịt vào mắt anh D trong quá
trình ị truy đuổi là thuộc trƣờng hợp “Hành hung để tẩu thoát” là tình tiết định
khung hình phạt theo quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm
2015, sửa đổi, ổ sung năm 2017. Ngoài ra, ị cáo H ngƣời khởi xƣớng, rủ rê T2
và các bị cáo khác cùng tham gia thực hiện hành vi phạm tội nên cần áp dụng m c
hình phạt tƣơng x ng với hành vi phạm tội của H.
Đối với bị cáo T1 đã có 02 tiền án về tội “Cƣớp giật tài sản”, ngày
26/01/2010 Tòa án nhân dân quận Tân Bình, TP.Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù
về tội “Cƣớp giật tài sản” chấp hành xong hình phạt ngày 02/10/2012, Ngày
25/02/2014 Tòa án nhân dân tỉnh Long An xử phạt 07 năm tù về tội “Cƣớp giật tài
sản” chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/01/2019 chƣa đƣợc xóa án tích nhƣng
lại phạm tôi do lỗi cố ý là thuộc trƣờng hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại
điểm i Khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, ổ sung năm 2017.
Đối với ị cáo T2 khi phạm tội chƣa đủ 18 tuổi, nhận th c còn hạn chế nên
Hội đồng x t xử áp dụng Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015,
sửa đổi ổ sung năm 2017 để xem x t khi lƣợng hình.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Về tình tiết tăng nặng: Các ị cáo Trịnh Văn T1, Trƣơng Quốc B, Tạ Hoàng
T2 kh ng có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Riêng đối với ị cáo Nguyễn
Thanh H là ngƣời trên 18 tuổi xúi giục Tạ Hoàng Thạch là ngƣời dƣới 18 tuổi
phạm tội, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o khoản 1
Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi ổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét các ị cáo thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải; tài
sản đã thu hồi trả lại ị hại nên cần áp dụng tình giảm nhẹ đƣợc quy định tại điểm
h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi ổ sung năm 2017.
X t ngƣời ào chữa cho ị cáo T2 yêu cầu cho bị cáo T2 đƣợc hƣởng tình
tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017 là kh ng có cơ sở chấp nhận.
Về vật ch ng:
- Đối với 01 USB màu trắng đỏ có chữ Apacer, ghi nhận lại diễn iến hành
vi cƣớp giật của các ị cáo. X t đây là ch ng c ch ng minh hành vi phạm tội của ị cáo nên cần tiếp tục lƣu giữ cùng hồ sơ vụ án.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 màu xanh đen số imei:
356446/08/387140/5, số imei1: 356447/08/387140/3 và 01 điện thoại di động hiệu NOKI màu đen, số imei1: 354493099202854. Imei2: 35449509422854 k m theo sim số liên lạc xxxxxxxxxx. X t đây là tài sản cá nhân của Trƣơng Quốc B không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo B.
- Đối với 01 xe gắn máy hiệu Exciter màu đen iển số 59P1 – 418.01, số
khung: RLCE1S9A0CY023621, số máy: 1S9A023638 là phƣơng tiện B điều khiển chở T1 đi cƣớp giật tài sản. Đăng ký chủ xe là ng Lê Thanh D1. Ông D1 và Trƣơng Quốc B đều xác định, khoảng tháng 06/2017, ng D1 án chiếc xe trên cho B, do có quan hệ họ hàng nên kh ng làm thủ tục sang tên, ng D1 kh ng có ý kiến đối với chiếc xe trên. X t đây là phƣơng tiện phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nƣớc.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung J3 Pro màu bạc, số imei1:
1358868085138038, số imei2: 1358869085138036 kèm Sim có số liên lạc xxxxxxxxxx thu giữ của Trịnh Văn T1, do v a ra tù, T1 mƣợn của cha ruột là ng Trịnh Văn C để sử dụng, T1 sử dụng liên lạc rủ nhau “Cƣớp giật tài sản”. X t đây là tài sản của ông C nên trả lại cho ông C.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO F1S màu hồng, số imei1:
869897086619, imei2: 8698997086601 kèm theo sim 1 số xxxxxxxxxx, sim 2 số xxxxxxxxxx thu giữ của Tạ Hoàng T2, là điện thoại di động của mẹ T2 là à Nguyễn Thị Hiệp cho Thạch mƣợn chơi game. X t đây là tài sản của bà Hiệp nên trả lại cho bà Hiệp.
- Đối với 01 xe gắn máy hiệu Exciter màu đen ạc biển số 59Y1-791.16, số
khung: RLCE1-S9206Y003385, số máy: 1S92-003385 là phƣơng tiện T2 mƣợn của mẹ ruột là à Nguyễn Thị Hiệp đi chơi, sau đó sử dụng làm phƣơng tiện đi cƣớp giật. Đăng kí chủ xe là ng Trƣơng Tấn Tr. Ngày 12/01/2018, Lê VT, sinh 16/09/2001, ngƣời đại diện theo pháp luật là bà Bùi Thị Z mua chiếc xe trên có Hợp đồng mua án, c ng ch ng. Khoảng tháng 03/2018, Thắng án xe cho ngƣời bạn tên Thiện (không rõ lai lịch), viết giấy tay, hiện mất giấy mua án, Thắng kh ng có ý kiến hay yêu cầu đối với chiếc xe trên. Bà Nguyễn Thị Hiệp mua xe vào khoảng tháng 04/2018 qua mạng Internet của 01 ngƣời kh ng xác định lai lịch, kh ng làm hợp đồng mua, bán. Bà Hiệp không biết Thạch sử dụng xe làm phƣơng tiện đi cƣớp giật tài sản. Do kh ng xác định dƣợc chủ sở hữu nên giao Cơ quan Thi hành án dân sự đăng áo tìm kiếm chủ sở hữu trong một thời gian nhất định nếu hết thời hạn mà kh ng tìm đƣợc chủ sở hữu thì trả lại cho bà Nguyễn Thị Hiệp.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu bạc, số imei:
359268069256816, kèm sim số xxxxxxxxxx, là tài sản của Nguyễn Thanh H. Xét
đây là tài sản cá nhân của H kh ng liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo H.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số imei:
353419/04/25529515, H mƣợn của T2 để gọi rủ T1 đi cƣớp giật tài sản, H giữ điện
thoại đến khi bị bắt. X t đây là phƣơng tiện phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách
nhà nƣớc.
- Đối với 02 bình xịt hơi cay là vật không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu
hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO 33 màu xanh đen, ể kính màn
hình, có giá trị là 1.500.000 đồng. Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Tân
Bình đã trả lại cho bị hại có cơ sở và đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng
xét xử không xem xét lại.
Về trách nhiệm dân sự: Xét bị hại đã nhận lại tài sản và kh ng có yêu
cầu gì nên kh ng xem x t.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn c Điều 106; Điều 268, Điều 292, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2015;
- Căn c vào Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi bổ
sung năm 2017;
- Căn c điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; điểm d, đ
khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017 đối
với bị cáo Nguyễn Thanh H;
- Căn c điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình
sự năm 2015 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trƣơng Quốc B;
- Căn c điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật
hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trịnh Văn T1;
- Căn c điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 91; khoản 1 Điều 101; điểm d
khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017 đối
với bị cáo Tạ Hoàng T2;
- Căn c Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Ủy an thƣờng vụ Quốc Hội;
- Căn c Điều 26 Luật Thi hành án dân sự đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2014;
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H, Trƣơng Quốc B, Trịnh Văn T1, Tạ
Hoàng T2 phạm tội “Cƣớp giật tài sản”.
Xử phạt: NGUYỄN THANH H 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính t ngày 20/5/2019
Xử phạt: TRƢƠNG QUỐC B 03 ( a) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính t ngày 20/5/2019
Xử phạt: TRỊNH VĂN T1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính t ngày 20/5/2019
Xử phạt: TẠ HOÀNG T2 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính t ngày 20/5/2019
2. Về vật ch ng:
Giao Tòa án nhân dân quận Tân Bình lƣu giữ vào hồ sơ vụ án 01 USB màu
trắng đỏ có chữ Apacer, ghi nhận lại diễn iến hành vi cƣớp giật của các ị cáo (tình trạng theo phiếu nhập kho vật ch ng số 154/PNK ngày 05/9/2019 của Công an quận Tân Bình)
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nƣớc: 01 xe gắn máy hiệu Exciter màu đen iển
số 59P1 – 418.01, số khung: RLCE1S9A0CY023621, số máy: 1S9A023638; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số imei: 353419/04/25529515 (tình trạng theo phiếu nhập kho vật ch ng số 138/PNK ngày 22/7/2019 của Công an quận Tân Bình).
Tịch thu tiêu hủy: 02 bình xịt hơi cay (tình trạng theo phiếu nhập kho vật
ch ng số 138/PNK ngày 22/7/2019 của Công an quận Tân Bình).
Trả lại cho bị cáo Trƣơng Quốc B: 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7
màu xanh đen số imei: 356446/08/387140/5, số imei1: 356447/08/387140/3 và 01 điện thoại di động hiệu NOKI màu đen, số imei1: 354493099202854. Imei2: 35449509422854 k m theo sim số liên lạc xxxxxxxxxx (tình trạng theo phiếu nhập kho vật ch ng số 138/PNK ngày 22/7/2019 của Công an quận Tân Bình).
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh H: 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu
bạc, số imei: 359268069256816, kèm sim số xxxxxxxxxx (tình trạng theo phiếu nhập kho vật ch ng số 138/PNK ngày 22/7/2019 của Công an quận Tân Bình).
Giao Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình đăng áo tìm chủ sở hữu
hợp pháp của 01 xe máy hiệu Exciter màu đen ạc biển số 59Y1-791.16, số khung: RLCE1-S9206Y003385, số máy: 1S92-003385; 01 điện thoại di động hiệu OPPO F1S màu hồng, số imei1: 869897086619, imei2: 8698997086601 kèm theo sim 1 số xxxxxxxxxx, sim 2 số xxxxxxxxxx (tình trạng theo phiếu nhập kho vật ch ng số 138/PNK ngày 22/7/2019 của Công an quận Tân Bình), trong thời hạn 12 tháng, nếu quá hạn vẫn kh ng tìm đƣợc chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe trên thì trả lại cho à Nguyễn Thị Hiệp.
Trả lại cho ông Trịnh Văn C: 01 điện thoại di động hiệu Samsung J3 Pro
màu bạc, số imei1: 1358868085138038, số imei2: 1358869085138036 kèm Sim có số liên lạc xxxxxxxxxx (tình trạng theo phiếu nhập kho vật ch ng số 138/PNK ngày 22/7/2019 của Công an quận Tân Bình).
3. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí
hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày tính t ngày tuyên án, ị cáo,
ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt đƣợc quyền kháng cáo lên Tòa án
nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày nhận đƣợc ản án
hoặc ngày Tòa án tống đạt, niêm yết ản án hợp lệ.
Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì ngƣời đƣợc thi hành án
dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu
cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy
định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự đƣợc sửa đổi, bổ sung
năm 2014; Thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Hội đồng xét xử đã giải thích về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi
hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án cho đƣơng sự theo quy định tại điều 26 Luật
Thi hành án đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2014.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; bị hại; NCQLNVLQ - Công an quận Tân Bình; - VKSND quận Tân Bình; - Chi cục THADS quận Tân Bình; - TAND, VKSND Tp. Hồ Chí Minh; - Phòng HSNVCS CA Tp. HCM; - Lƣu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Vân |