- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Đào Thị L được ly hôn anh Võ Huy H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 120/2019/HNGĐ - ST Ngày 28 - 11 - 2019 V/v: Tranh chấp HN&GĐ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Nhung
Các hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thành - Bà Nguyễn Thị Hà
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Quang Sáng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa: Không tham gia - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 439/2019/TLST- HNGĐ, ngày 28 tháng 10 năm 2019 về tranh chấp Hôn nhân và Gia đình, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 236/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày15 tháng 11 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số:145/2019/QĐST, ngày 21tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Đào Thị L - sinh năm 1992
Trú tại: xóm N - xã P - huyện Y- tỉnh Nghệ An
Nghề nghiệp: Lao động tự do (có mặt)
- Bị đơn: anh Võ Huy H - sinh năm 1991
Trú tại: xóm N - xã P - huyện Y - tỉnh Nghệ An.
Nghề nghiệp: Lao động tự do (vắng mặt lần thứ hai)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn ly hôn đề ngày 17/10/2019, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án chị Đào Thị L trình bày: chị và anh Võ Huy H kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có tìm hiểu, tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn vào 22 tháng 02 năm 2016, tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, thường xuyên cải vả. Khiến cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng và nặng nề. Hai bên đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Chị xác định hai bên không còn tình cảm với nhau nữa, mục đích hôn nhân không đạt được chị yêu cầu tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Võ Huy Trọng N - sinh ngày 04/12/2016. Hiện nay con chung đang ở với chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, do con chung còn nhỏ nên chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con để và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản: chị Đào Thị L không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn anh Võ Huy H quá trình giải quyết, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh H vẫn không có mặt. Tòa án đã trực tiếp tống đạt giấy triệu tập và các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh H theo đúng quy định của pháp luật đồng thời lập biên bản tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho bố ruột của anh H là ông Võ Huy Th ông Th đã cam kết nhận trách nhiệm giao lại cho anh H nhưng anh H vẫn không có mặt, vì vậy Tòa án không tiến hành phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và cũng không lấy lời khai của anh H được.Tuy nhiên qua tài liệu do nguyên đơn cung cấp và qua biên bản xác minh tại xóm, xã thì tình trạng hôn nhân, con chung chưa thành niên giữa chị L và anh H đúng như chị L trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi nghe ý kiến trình bày của chị Đào Thị L tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1.Về tố tụng:
Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.
Trong quá trình giải quyết vụ án, toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị L, anh H, yêu cầu các bên có mặt tại Toà án để giải quyết vụ án nhưng anh H không có mặt. Vì vậy Toà án đã lập biên bản theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, làm cơ sở giải quyết vụ án.
Ngày 15/11/2019, Tòa án Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập đến phiên toà và đã tống đạt hợp lệ cho các đương sự. Tại phiên toà lần thứ nhất ngày 21/11/2019 chị L có mặt, anh H vắng mặt không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà. Để tiếp tục giải quyết vụ án, Toà án tiếp tục tống đạt các văn bản tố tụng phiên toà lần thứ hai cho các bên đương sự tuy nhiên tại phiên toà hôm nay chị L có mặt, anh H tiếp tục vắng mặt không có lý do. Như vậy, anh H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với bị đơn.
2. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Xét hôn nhân giữa chị L, anh H là hôn nhân hợp pháp, tuân thủ theo quy định của pháp luật. Song qua xem xét thực tế thì thấy rằng cuộc sống chung của vợ chồng thời gian gần đây không được hạnh phúc, mâu thuẫn liên tục xảy ra và thực sự căng thẳng, trầm trọng, hai bên đã sống ly thân, không còn quan tâm, trách nhiệm gì với nhau nữa. Trên cở sở đó xác định tình cảm vợ chồng không còn gắn kết, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H là có căn cứ, cần chấp nhận.
- Về quan hệ con chung: Quá trình giải quyết vụ án chị L có nguyện vọng yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng. Việc nuôi con vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của các bên vì vậy nguyện vọng của chị L là nguyện vọng chính đáng cần xem xét.
Theo chị L trình bày, thì xét hoàn cảnh hiện tại của anh H về điều kiện gần gũi và chăm sóc khéo léo con không đảm bảo bằng chị L. Mặt khác hiện nay con chung còn nhỏ rất cần sự chăm sóc của người mẹ; tại phiên tòa chị trình bày chị đang làm nông nghiệp và có công việc làm thêm có thu nhập trung bình từ 5.000.000 - 6.000.000 đồng/tháng đủ trang trải cuộc sống cho mẹ con, hơn nữa bên cạnh chị còn có bố mẹ, người thân hỗ trợ cho mẹ con cả vật chất lẫn tinh thần vì vậy cần tiếp tục giao cho chị L nuôi dưỡng đến khi trưởng thành là phù hợp với tình hình thực tế cũng như quy định của pháp luật.
- Quan hệ tài sản: chị L không yêu cầu tòa án giải quyết nên miễn xét.
*Về án phí: chị L phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 điều 28; khoản 1 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; điều 51;56; 81; 82; 83 của luật Hôn Nhân và Gia đình;
- Về hôn nhân: Xử cho chị Đào Thị L được ly hôn anh Võ Huy H.
- Về con chung: Tiếp tục giao con chung là cháu Võ Huy Trọng N - sinh ngày 04/12/2016 cho chị Đào Thị L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Võ Huy H đến khi có yêu cầu.
Anh Võ Huy H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
- Án phí: Căn cứ vào khoản 4 điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điều 27 Nghị quyết 326 /2016/UBTVQH, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.
Buộc chị Đào Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, án phí của chị L được tính trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Yên Thành (Biên lai thu tiền số: 0000147, ngày 28 tháng 10 năm 2019), chị L đã nộp đủ án phí.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt chị Đào Thị L, vắng mặt anh Võ Huy H. Tuyên bố để các bên đương sự biết, nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các bên Đương sự. - VKSND H. Yên Thành - THADS H. Yên Thành - TAND tỉnh. - UBND xã P - Lưu HS | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Thị Nhung |