vanban.org

Bản án 120/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 24/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các b cáo Nguyễn Viết S, Cà Văn P ph m tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Áp d ng điểm đ khoản 2 Điều 249 điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử ph t: Nguyễn Viết S 05 (Năm) năm tù. Thời gian chấp hành hình ph t tù các b cáo tính từ ngày t m giữ, t m giam ngày (25/3/2018). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Viet S va dong pham - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các b cáo Nguyễn Viết S, Cà Văn P ph m tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN S

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 120/2018/HSST
Ngày: 24-8-2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH SƠN LA

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thành Vân, ông Quàng Văn Tiện.

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Th Nhung, thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện S tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Nam – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2018, t i Tr s Toà án nhân dân huyện S, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 108/2018/HSST ngày 06 tháng 7 năm 2018, theo Quyết đ nh đưa v án ra xét xử số: 123/2018/HSST-QĐ ngày 10 tháng 8 năm 2018 đối với các b cáo sau đây:

1. Họ và tên: Nguyễn Viết S, sinh năm 1996; nơi ĐKHKTT: Bản Q, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Chức v , đảng, đoàn thể: Không; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 10/12; Bố: Nguyễn Viết I; con bà: Nguyễn Th Đ; v : Ph m Nhã U; có 01 con nhỏ sinh năm 2017; tiền án; tiền sự: Không; b bắt t m giữ, t m giam từ ngày 25/3/2018 cho đến nay. Có mặt t i phiên tòa.

2. Họ và tên: Cà Văn P, sinh ngày 25/10/1999; nơi ĐKHKTT: Bản B, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; Chức v , đảng, đoàn thể: Không; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 9/12; con ông: Cà Văn L; con bà: Cà Th 0; v con: Chưa có; tiền án; tiền sự: Không; b bắt t m giữ, t m giam từ ngày 24/3/2018 đến ngày 02/4/2018 đư c áp d ng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú t i ngo i t i xã C, huyện S do b liệt tứ chi. Có mặt t i phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo tài liệu có trong hồ sơ v án, thì nội dung v án đư c tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 00 ngày 24/3/2018, Tổ công tác Đồn biên phòng cửa khẩu C làm nhiệm v t i bản C, xã C, huyện S phát hiện bắt quả tang Cà Văn P và Cà Văn T cùng trú t i bản C, xã C có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: Thu t i lòng bàn tay trái của Cà Văn T 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa 24 viên nén màu hồng nghi là Hồng phiến; t m giữ của P 01 xe mô tô hiệu Honda BKS 26B2-065-79.

M rộng điều tra, cơ quan CSĐT công an huyện S ra lệnh giữ người trong trường h p khẩn cấp đối với Nguyễn Viết S, người đã đưa tiền nhờ Cà Văn P và Cà Văn T đi mua hộ ma túy.

Ngày 27/3/2018, t i Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành m niêm phong, xác đ nh khối lư ng vật chứng và trích mẫu giám đ nh. Kết quả: Cân 24 viên nén màu hồng thu giữ của Cà Văn T có tổng khối lư ng 2,32 gam, đã trích 05 viên có khối lư ng 0,50 gam làm mẫu giám đ nh ký hiệu T1.

T i kết luận giám đ nh số 413 ngày 01/4/2018 của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám đ nh ký hiệu T1 là chất ma tuý; lo i chất Methamphetamine; tổng khối lư ng của mẫu gửi giám đ nh là 0,50 gam. Tổng khối lư ng chất ma túy thu giữ đư c là 2,32 gam lo i chất Methamphetamine.

Quá trình điều tra xác đ nh đư c như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 24/3/2018, Cà Văn P đi bộ đến quán game Lâm – Trúc thuộc bản K, xã C để chơi game thì gặp Cà Văn T và Nguyễn Viết S đang ngồi chơi game đó. Khoảng 30 phút sau T và P đi ra phía sau quán game để đi vệ sinh thì S đi ra theo và hỏi T có Hồng phiến bán không? T trả lời “không có, đến chiều sẽ đi tìm mua”, thấy vậy S bảo với T lúc nào đi mua thì cho S gửi ít tiền để mua Hồng phiến cùng sử d ng, T đồng ý. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, khi cả 3 đang ngồi chơi game thì P hỏi T có đi mua Hồng phiến không để P đi mư n xe, T trả lời “có” thì P quay ra bảo S đưa tiền cho P để P và T đi mua Hồng phiến, S đưa cho P số tiền 240.000VNĐ để đi mua Hồng phiến. P và T đi ra ngoài quán game thì gặp Lò Văn N SN 2000 trú t i Bản C, xã C, huyện S đang ngồi uống nước gần đó, P đến chỗ N hỏi mư n 01 chiếc xe mô tô tô nhãn hiệu Honda Wave α BKS 26B2-065.79 của N để đi chơi và đư c Nam đồng ý. Sau khi mư n đư c xe, P điều khiển xe ch T theo đường mòn sang bản T, c m Xiềng K, huyện M, tỉnh Hủa Phăn, nước CHDCND Lào thì P dừng xe l i đưa số tiền 240.000VNĐ cho T để T đi tìm mua Hồng phiến, còn P xuống xe ngồi đ i. T một mình điều khiển xe mô tô đi vào nhà của một người đàn ông dân tộc Mông, Quốc t ch Lào không rõ tên, tuổi hỏi mua đư c 24 viên Hồng phiến với giá 600.000VNĐ. Thắng trả trước 240.000VNĐ và hẹn n l i 360.000VNĐ 02 ngày sau sẽ mang trả và đư c người dân tộc Mông đó đồng ý. Sau khi mua đư c ma túy, T điều khiển xe ra chỗ P đang ngồi đ i rồi đưa xe mô tô cho P điều khiển, còn T ngồi sau xe mô tô cầm gói ma túy lòng bàn tay trái rồi cùng nhau đi về. Khi cả hai đi về đến khu vực bản C, xã C thì b tổ công tác Đồn Biên phòng cửa khẩu C làm nhiệm v bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng nêu trên.

Cáo tr ng số: 72/CT-VKSSM ngày 05 tháng 7 năm 2018 của V iện Kiểm sát nhân dân huyện S Mã truy tố Nguyễn Viết S và Cà Văn P về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo điểm đ khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

T i phiên toà, Kiểm Sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề ngh Hội đồng xét xử áp d ng điểm đ khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51và Điều 38 Bộ luật hình sự. Ph t các b cáo từ 5 đến 6 năm tù. Miễn hình ph t bổ sung cho b cáo; vật chứng đề ngh xử lý theo quy đ nh của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đư c thẩm tra t i phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận t i phiên tòa; trên cơ s xem xét đầy đủ toàn diện, chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên, b cáo cùng các chứng cứ khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã đư c thẩm tra, xét hỏi, tranh luận t i phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết đ nh tố t ng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy đ nh của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên toà các b cáo không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết đ nh của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết đ nh tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều h p pháp.

T i phiên toà các b cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai t i cơ quan Điều tra; phù h p với nội dung, tội danh bản Cáo tr ng; lời khai nhận của b cáo c ng phù h p với biên bản ph m tội qủa tang, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ v án. T i phiên tòa không phát sinh tình tiết mới, các b cáo hoàn toàn nhất trí và không tranh luận với Kiểm sát viên, ý kiến cuối cùng xin đư c giảm nhẹ hình ph t.

Các b cáo do ham chơi, đua đòi nên đã bàn b c rồi nhờ người đi tìm mua ma tuý về để sử d ng thì b bắt quả tang. Đặc biệt, các b cáo đã sử d ng người dưới 16 tuổi vào việc ph m tội, thuộc trường h p đ nh khung hình ph t, các b cáo Tàng trữ ma tuý với khối lư ng đáng kể 2,32 gam Methamphetamine.

Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ s kết luận các b cáo: Nguyễn Viết S và Cà Văn P đã ph m tội “Tàng tr trái phép chất ma tuý”, tội ph m và hình ph t đư c quy đ nh t i điểm đ khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Kh i tố của cơ quan Điều tra và Truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi ph m tội của b cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm ph m sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy; gây mất trật tự tr an t i đ a phương, gây bức xúc trong nhân dân. Các b cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Vì vậy, cần thiết phải xử lý b cáo nghiêm khắc, nhằm răn đe, giáo d c và phòng ngừa chung.

Về vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các b cáo ph m tội với vai trò ngang nhau, người chi tiền; người đi mua ma tuý. Do vậy, các b cáo sẽ phải ch u mức hình ph t như nhau; các b cáo không có tình tiết tăng nặng; đều chưa có tiền án, tiền sự; t i cơ quan Điều tra và t i phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ đư c pháp luật quy đ nh, cần áp d ng cho các b cáo đư c hư ng.

Về số ma tuý thu giữ đư c trong v án: Theo Cà Văn T khai mua đư c của một người đàn ông dân tộc Mông Quốc t ch Lào không rõ lai l ch, nên cơ quan Điều tra không có căn cứ để m rộng v án là phù h p.

Đối với Cà Văn T đã có hành vi cùng Cà Văn P tàng trữ 2,32 gam Methamphetamine với m c đích để sử d ng cho bản thân. Quá trình xác minh T chưa có tiền án, tiền sự, t i thời điểm bắt quả tang T mới 15 tuổi 01 tháng 13 ngày, không thuộc trường h p phải ch u TNHS theo quy đ nh t i khoản 2 Điều 12 BLHS nên cơ quan CSĐT Công an huyện không t m giữ hình sự và ra quyết đ nh xử ph t hành chính số 011975 ngày 10/5/2018 đối với T là có căn cứ, cần chấp nhận.

Đối với Lò Văn N đã cho Cà Văn P mư n 01 chiếc xe mô tô Honda Wave α BKS 26B2- 065.79 vào ngày 24/3/2018. Quá trình xác minh chiếc xe trên thuộc quyền s hữu của ông Lò Văn A SN 1970 (bố đẻ của N). Khi N cho P mư n chiếc xe mô tô không biết việc P cùng T đi mua ma túy nên Cơ quan CSĐT đã trao trả l i chiếc xe cho chủ s hữu và không đặt vấn đề xử lý đối với Nam là phù h p.

Vật chứng v án còn l i: 1,82 gam Methamphetamine, 01 mảnh túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu là vật cấm lưu hành, cần t ch thu để tiêu huỷ.

Xét thấy, các b cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có khả năng thi hành nên miễn hình ph t bổ sung (là phạt tiền) cho b cáo.

Các b cáo phải ch u án phí theo quy đ nh chung.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các b cáo Nguyễn Viết S, Cà Văn P ph m tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Áp d ng điểm đ khoản 2 Điều 249 điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

- Xử ph t: Nguyễn Viết S 05 (Năm) năm tù. Thời gian chấp hành hình ph t tù các b cáo tính từ ngày t m giữ, t m giam ngày (25/3/2018).

- Xử ph t: Cà Văn P 05 (Năm) năm tù, đư c khấu trừ 09 (chín) ngày t m giữ. Còn phải thi hành tiếp 04 năm 11 tháng 21 ngày (Bốn năm, mười một tháng, hai mươi mốt ngày). Thời gian chấp hành hình ph t tù tính từ ngày nhập tr i thi hành án.

2. Vật chứng: Áp d ng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự năm 2015.

- T ch thu để tiêu huỷ: 01 (một phong bì thư do bưu điện Việt Nam phát hành. Mặt trước phong bì có ghi: “V t ch ng v : Cà Văn T SN 2003 ch : B n C, ã C, huy n S, t nh Sơn La. Hành vi cùng đ ng phạm Tàng tr trái phép chất ma tuý. G m: T2 1,82 gam H ng phi n, 01 m nh túi nilon màu tr ng và 01 v phong bì niêm phong ban đầu". Trên mặt đo n giấy trắng niêm phong mặt sau phong bì có ghi dòng chữ: “Cơ quan CSĐT- Công an huyện S, ngày 27/3/2018” và có đầy đủ chữ ký của thành phần tham gia niêm phong cùng 02 (hai) hình dấu đỏ của Cơ quan CSĐT – Công an huyện S.

(Theo biên b n giao nh n v t ch ng ngày 08/6/2018 gi a Chi c c thi hành án dân sự - Công an huy n S, t nh Sơn La).

3. Về án phí: Áp d ng Điều 135 Bộ luật tố t ng hình sự; các Điều 21, 23 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14. Các b cáo phải ch u án phí hình sự sơ thẩm mỗi b cáo 200.000 đồng.

Các b cáo có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ