- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Xử cho Chị Kiều Thị L và anh Mô Lô S được ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 120/2018 /HNGĐ - ST Ngày: 11/10/2018 V/v Tranh chấp hôn nhân gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Huy Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Nguyễn Trọng Kiêm – Nghề nghiệp cán bộ hưu trí;
2. Ông: Trần Minh Đức – Cán bộ UBND xã Xuân Phổ.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Giang
Ngày 11 tháng 10 năm 2018 tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 98/2018/TLST – HNGĐ, ngày 28 tháng 8 năm 2018, về việc “ Tranh chấp hôn nhân và gia đình”:
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2018/QĐXX-ST ngày 27 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Kiều Thị L - Sinh năm 1982(Có mặt)
Bị đơn: Anh Mô Lô S, sinh năm 1981 (Có mặt)
Các đương sự đều trú tại: Thôn Hồng T, xã Xuân H, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 30/7 /2018 và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Kiều Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Mô Lô S ngày 27/7/2001, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn hợp pháp. Sau khi cưới nhau được một thời gian, vợ chồng về sống chung tại thôn Hồng T, xã Xuân H, Nghi Xuân đến đầu năm 2017 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẩn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh S hay uống rượu nên vợ chồng thường xuyên cãi cọ nhau, không tôn trọng nhau . Vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2018 đến nay không có quan hệ gì với nhau. Nay thấy hạnh phúc gia đình không thể hàn gắn được, chị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Mô Lô S.
Về con chung: Nếu ly hôn nguyên đơn xin nuôi các con Mô Lô Kiều Hoài T, sinh ngày 10/5/2002, Mô Lô H’T, sinh ngày 10/7/2007 và Mô Lô H Th, sinh ngày 7/8/2011 đến tuổi trưởng thành, bị đơn không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, nợ chung: Vợ chồng tự giải quyết.
Bị đơn anh Mô Lô S trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh đồng ý với ý kiến của nguyên đơn về thời gian kết hôn, thời gian chung sống. Từ đầu năm 2018 đến nay vợ chồng sống ly thân không có quan hệ vợ chồng, sau khi làm đơn ly hôn đã được tòa án hòa giải nhiều lần nhưng hiện nay hai vợ chồng chưa thể ngồi nói chuyện được với nhau, tuy nhiên anh vẫn còn tình cảm với nguyên đơn nên không đồng ý ly hôn.
Về quan hệ con chung: Nếu ly hôn, bị đơn đồng ý giao các con chung Mô Lô Kiều Hoài T, sinh ngày 10/5/2002, Mô Lô H’T, sinh ngày 10/7/2007 và Mô Lô H Th, sinh ngày 7/8/2011 cho chị L nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, anh sẽ có nghĩa vụ chăm sóc con theo khả năng của mình.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng tự giải quyết không yêu cầu tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần, ấn định thời gian và giao trách nhiệm cho các đương sự và gia đình tìm cách hòa giải, bàn bạc để níu kéo tình cảm vợ chồng nhưng quá thời gian được ấn định nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, bị đơn không đưa ra được giải pháp để vợ chồng đoàn tụ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thẩm quyền xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì yêu cầu ly hôn của chị Kiều Thị L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
[ 2]. Xét quan hệ hôn giữa anh Mô Lô S và chị Kiều Thị L, HĐXX nhận thấy đây là hôn nhân hợp pháp các bên không vi phạm điều kiện và đăng ký kết hôn quy định tại điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Các đương sự thừa nhận sau khi kết hôn vợ chồng sống chung hạnh phúc, đến đầu năm 2018 sống ly thân, từ đó đến nay không có quan hệ vợ chồng, không quan tâm, không nói chuyện với nhau. Nay chị L khẳng định tình cảm vợ chồng không còn nên nhất quyết xin ly hôn.
Xét lời khai của bị đơn khẳng định còn tình cảm với nguyên đơn nên không đồng ý ly hôn nhưng bị đơn cũng thừa nhận đã gần 1 năm nay vợ chồng không nói chuyện được với nhau, không có quan hệ vợ chồng và không có cách gì để níu kéo tình cảm.
Để vợ chồng thông cảm, hiểu nhau hơn, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần, ấn định thêm thời gian để các đương sự tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng quá thời hạn, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn. Bản thân bị đơn tuy trình bày còn tình cảm với vợ nhưng vợ chồng ly thân gần 1 năm nhưng anh không có hành động gì để cải thiện tình cảm vợ chồng. Vì vậy, có căn cứ khẳng định được hôn nhân của chị L và anh S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, thiết nghĩ cần xử cho các đương sự ly hôn để ổn định cuộc sống là phù hợp với quy định tại điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
. Về con chung: Xét thỏa thuận của các đương sự giao các con chung Mô Lô Kiều Hoài T - sinh ngày 10/5/2002, Mô Lô H’T - sinh ngày 10/7/2007 và Mô Lô H Th - sinh ngày 7/8/2011 cho nguyên đơn nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (18 tuổi), bị đơn có nghĩa vụ chăm sóc con theo khả năng của mình là phù hợp với quy định pháp luật, HĐXX cần ghi nhận.
. Về tài sản, nợ chung: Không yêu cầu HĐXX miễn xét.
. Về án phí: Nguyên đơn, bị đơn thuộc diện hộ nghèo không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, khoản 1, 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ điểm đ khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.
1. Xử cho Chị Kiều Thị L và anh Mô Lô S được ly hôn.
2. Ghi nhận thỏa thuận của các đương sự giao các con chung Mô Lô Kiều Hoài T - sinh ngày 10/5/2002; Mô Lô H’T - sinh ngày 10/7/2007 và Mô Lô H Th - sinh ngày 7/8/2011 cho chị Kiều Thị L nuôi dưỡng đến khi các con chung đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi). Anh Mô Lô S không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung và được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được phép cản trở.
3. Về án phí ly hôn: Các đương sự được miễn án phí ly hôn sơ thẩm.
Vụ án được xét xử công khai các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Các đương sự - VKSND huyện Nghi Xuân; - THA huyện Nghi Xuân; - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - UBND T.T Buôn Hồ, Krong buk, Đắc Lắc; - Lưu Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký, đóng dấu) Phạm Huy Bình |