- Tranh chấp gì? án dân sự — "Vụ án T/C Hợp đồng mua bán giữa Lý Ngọc T với Nguyễn Hoàng H"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 120/2018/DSST Ngày: 30/11/2018 Vụ án: “Tranh chấp hợp đồng mua bán” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU
Với thành phầm Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Ánh
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Dương Minh Dũng
2. Bà Hồ Thị Kim Luyến
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Diệp - Cán bộ tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Lộc – Kiểm sát viên.
Vào ngày 30 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử sở thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 247/2018/TLST-DS ngày 03/8/2018 về vụ án: “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”, theo quyết định hoãn phiên tòa số: 275/2018/QĐST-DS, ngày 14 tháng 11 năm 2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Lý Ngọc T
– sinh năm : 1974.
Địa chỉ: Số 499B, khu vực Thạnh Thắng, phường Thường Thạnh, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ. ( Có mặt tại phiên tòa)
Bị đơn:
Bà Nguyễn Hoàng H – sinh năm : 1968
Địa chỉ: Số 252, tổ 6, khu vực 6, phường An Bình, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. ( Vắng mặt tại phiên tòa ).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn ông Lý Ngọc T cho rằng: Vào ngày 16/10/2017, ông có thỏa thuận bán cho bà Nguyễn Hoàng H 645kg cam trái, với đơn giá 7.000 đồng/kg, thành tiền là 4.515.000 đồng, việc mua bán bà Hôn thỏa thuận vài ngày sẽ trả tiền, nhưng sau đó không trả, nên ông có gởi đơn đến tổ hòa giải cơ sở để hòa giải. Tại Biên bản hòa giải ngày 12/4/2018, bà Hôn cam kết hứa vào ngày 20/4/2018 sẽ trả trước 1.000.000 đồng và tháng sau tiếp tục trả tiếp, nhưng vẫn không thực hiện. Nay ông yêu cầu bà Hôn có trách nhiệm trả cho ông đủ số tiền mua cam còn nợ là 4.515.000 đông.
Đối với bị đơn bà Nguyễn Hoàng H mặc dù đã được tống đạt hợp lệ nhiều lần thông báo phiên họp công khai chứng cứ, thông báo hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa bằng phương thức tống đạt và niêm yết, nhưng vẫn vắng mặt, nên Tòa án không thu thập được bản tự khai, cũng như không tiến hành hòa giải vụ án được theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà Hôn phải có trách nhiệm trả co ông số tiền mua cam còn thiếu là 4.515.000 đồng.
- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự:
- Đối với Thẩm phán, Thư ký đã chấp hành đúng theo Điều 48, 51 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đã xác định đúng về thẩm quyền theo loại việc, theo cấp xét xử và lãnh thổ; về quan hệ pháp luật tranh chấp là đúng; xác định đúng tư cách đương sự; việc thu thập chứng cứ; gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng theo quy định.
- Đối với Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về trình tự thủ tục điều khiển tại phiên tòa.
- Đối với nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án; Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả lại cho nguyên đơn số tiền 4.515.000 đồng
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1].Xét về quan hệ pháp luật tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp về “ Hợp đồng mua bán tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Do bị đơn cư trú tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo quy định tại tại Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với bị đơn bà Nguyễn Hoàng H qua xác minh được Công an phường An Bình, quận Ninh Kiều xác định bà Hôn hiện vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số 252/6, khu vực 6, phường An Bình, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ, nhưng không thường xuyên có mặt tại địa phương, nên Tòa án đã tiến hành niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhiều lần theo quy định tại Khoản 5 Điều 177; Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng đương sự vẫn vắng mặt. Nên căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định.
[2].Qua yêu cầu của nguyên đơn Hội đồng xét xử, xét thấy :
Nguyên đơn ông Lý Ngọc T khởi kiện bị đơn bà Nguyễn Hoàng H đòi lại số tiền 4.515.000 đồng, do bà Hôn mua cam nhưng chưa trả tiền, đã cung cấp được chứng cứ là biên bản hòa giải cơ sở của tổ hòa giải khu vực 6, phường An Bình, quận Ninh Kiều ( Biên bản có chứng thực của UBND phường), nội dung biên bản bà Hôn thừa nhận còn nợ ông Tuấn 4.515.000 đồng và cam kết trả. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo hòa giải cho bà Nguyễn Hoàng H bằng phương thức tống đạt trực tiếp và sau đó bà Hôn không thường xuyên ở nhà nên đã chuyển sang niêm yết đúng quy định. Trong suốt quá trình Tòa án mời giải quyết mặc dù đã nhận được các thông báo hòa giải, xét xử nhưng bà Hôn cũng không có ý kiến gì phản đối với yêu cầu khởi kiện đòi nợ của nguyên đơn, nên căn cứ Khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, đây cũng là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh. Do đó mặc dù trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay không thu thập được lời khai của bị đơn bà Hôn, nhưng với những căn cứ như đã phân tích nêu trên có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải có trách nhiệm trả nợ cho nguyên đơn do đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng mua bán theo quy định tại Điều 430, 440 Bộ luật dân sự.
[3].Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Nguyễn Hoàng H phải nộp án phí và nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[4].Về ý kiến phát biểu nhận xét việc chấp hành Bộ luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, của các đương sự và đề nghị nội dung giải quyết vụ án của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Điều 430; 433; 434; 436; 440 Bộ luật dân sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên án: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Lý Ngọc T
- Buộc bị đơn bà Nguyễn Hoàng H phải có trách nhiệm trả cho ông Lý Ngọc T số tiền nợ là 4.515.000 đồng (Bốn triệu, năm trăm mười lăm ngàn đồng).
Kể từ khi nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, mà bị đơn chưa trả số tiền trên, thì còn phải chịu lãi suất theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
Về án phí dân sự sơ thẩm : Bị đơn bà Nguyễn Hoàng H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).
-Nguyên đơn ông Lý Ngọc T được nhận lại tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 001593, ngày 15/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TANDTPCT, - VKSND Q. NK, - THADS Q. NK, - Các đương sự, - Lưu HS. | BÙI XUÂN ÁNH |