vanban.org

Bản án 120/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 23/06/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn Q phạm Tội cố ý gây thƣơng tích. Xử phạt Đoàn Văn Q 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/12/2016. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Văn Q phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình…"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 144/2016/QH13 Về lùi hiệu lực thi hành của Bộ…; Điều 104 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 120/2017/HSST
Ngày 23-6-2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN TỈNH BỈNH DƢƠNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Sỹ Trứ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Trai;

2. Bà Huỳnh Ngọc Sƣơng.

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Công Tứ – Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Ấn - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 113/2017/HSST ngày 26 tháng 5 năm 2017 đối với bị cáo:

Đoàn Văn Q, sinh năm 1991 tại tỉnh TH; nơi ĐKNKTT: Thôn M, xã MT, huyện NL, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở: 53/14 khu phố B, phƣờng BC, thị xã TA, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 5/12; con ông Đoàn Văn Xuân (đã chết) và bà Đinh Thị Loan, sinh năm 1966; bị cáo có vợ tên Lê Thị Thƣơng, sinh năm 1992 và 02 ngƣời con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/12/2016 cho đến nay. (bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Ngƣời bị hại:

1. Võ Ngọc H, sinh năm 1992, trú tại: Ấp MA, xã MP, huyện CP, tỉnh An Giang; chỗ ở: Nhà trọ Năm Nghĩa, khu phố HL 2, phƣờng TG, thị xã TA, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt

2. Nguyễn Minh T, sinh năm 1987, trú tại: Ấp 2, xã PT, huyện CT, tỉnh Bến Tre; chỗ ở: Nhà trọ An Khƣơng, khu phố BT 2, phƣờng TA, thị xã TA, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Đoàn Văn Đ, sinh năm 1994, trú tại: Thôn M, xã MT, huyện NL, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở: 53/14 khu phố B, phƣờng BC, thị xã TA, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt

2. Lâm Võ T, sinh năm 1986, trú tại: 374 đƣờng Nguyễn Hữu Kiến ấp H, xã HA, thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp. Có mặt

3. Lê Thị T, sinh năm 1992, trú tại: 53/14 khu phố B, phƣờng BC, thị xã TA, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt

NHẬN THẤY

Bị cáo Đoàn Văn Q bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy tố về hành vi phạm tội nhƣ sau: Khoảng 12 giờ ngày 15/5/2016, Đoàn Văn Q cùng Đoàn Văn Đ (là em ruột của Q), Hùng, Quý (chƣa xác định đƣợc họ, tên, địa chỉ) đi dự tiệc cƣới của ông Trần Quốc Đạt tại Nhà hàng tiệc cƣới Vàng Son thuộc khu phố BT 2, phƣờng TG, thị xã TA, tỉnh Bình Dƣơng. Tại tiệc cƣới Đ, Hùng, Quý lên sân khấu tiệc cƣới nhảy và bao quanh những ngƣời phụ nữ cùng nhảy trên sân khấu. Lúc này Võ Lâm T lên sân khấu nắm tay những ngƣời phụ nữ đi xuống sân khấu và dùng tay chỉ vào mặt của Đ, Hùng, Quý; sau đó Lâm Võ T đi lên sân khấu nhảy thì Hùng ôm T, T không nói gì mà tiếp tục nhảy rồi đi xuống bàn tiếp tục uống bia.

Đến khoảng 14 giờ cùng ngày Q, Hùng, Quý, Đ đi về đến trƣớc cổng nhà hàng thì nhìn thấy một nhóm thanh niên đang đứng trƣớc cổng trong đó có T nên Đ gọi điện thoại cho Lê Văn Lâm, trú tại xã Ngọc Trung, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa đến để đánh nhau. Khi Lâm vừa đến, Đ dùng tay đánh vào mặt Th. Quý, Lâm cũng xông vào đánh Thiện. Lúc này, Võ Ngọc H vào khuyên can thì Đ, Hùng, Quý, Lâm bỏ đi, H đuổi theo thì bị nhóm của Đ đuổi đánh lại. H chạy vào tiệm sửa điện tử lấy một cái mỏ hàn chì dí vào đánh Đ nhƣng không trúng. Q đứng gần đó nhìn thấy Đ đánh nhau nên lấy đoạn cây dài 1 mét ở lề đƣờng cầm chạy đến đánh 01 cái vào đầu H làm H ngất xỉu ngã xuống đƣờng. Lúc này Nguyễn Minh T nhìn thấy H bị đánh nên chạy đến can ngăn thì bị Q cầm cây đánh trúng vào tay, T bỏ chạy vào nhà dân trốn. Sau đó Q và nhóm Đ bỏ về, trên đƣờng đi Q đã ném bỏ đoạn cây vào thùng rác ven đƣờng. Đối với Võ Ngọc H và Nguyễn Minh T đƣợc ngƣời dân đƣa đi Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dƣơng để điều trị

Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích của Trung Tâm pháp y thuộc Sở Y Tế tỉnh Bình Dƣơng số: 306/2016/GĐPY ngày 08/9/2016 đối với Võ Ngọc H đƣợc xác định: Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên hiện tại là 20% (hai không phần trăm) theo bảng tỷ lệ thƣơng tích cơ thể ban hành kèm theo Thông tƣ số 20/2014/TT-BYT do Bộ Y tế ban hành ngày 12/6/2014.

Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích của Trung Tâm pháp y thuộc Sở Y Tế tỉnh Bình Dƣơng số: 307/2016/GĐPY ngày 08/9/2016 đối với Nguyễn Minh T đƣợc xác định: Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên hiện tại là 15% (một năm phần trăm) theo bảng tỷ lệ thƣơng tích cơ thể ban hành kèm theo Thông tƣ số 20/2014/TT-BYT do Bộ Y tế ban hành ngày 12/6/2014.

Tại cáo trạng số: 136/QĐ/KSĐT ngày 25 tháng 5 năm 2017 của Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An đã truy tố bị cáo Đoàn Văn Q về Tội cố ý gây thƣơng tích theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và xác định: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ngƣời thân bồi thƣờng thiệt hại, khắc phục hậu quả, ngƣời bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo các điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Kiểm sát viên đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 02 năm đến 03 năm tù.

Giải quyết trách nhiệm dân sự theo thỏa thuận của bị cáo và ngƣời bị hại.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có tại hồ sơ, đƣợc thẩm tra trƣớc phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, ngƣời bị hại và các tài liệu khác,

XÉT THẤY

Tại phiên toà, bị cáo Đoàn Văn Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tình tiết nhƣ bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Khoảng 14 giờ ngày 15/5/2016, tại Nhà hàng tiệc cƣới Vàng Son thuộc khu phố BT 2, phƣờng TG, thị xã TA do có mâu thuẫn khi thấy ngƣời bị hại Võ Ngọc H sử dụng một cái mỏ hàn chì dí đánh em của bị cáo là Đoàn Văn Đ, nên bị cáo Q dùng 01 cây gỗ tầm vông dài 01 mét đánh một phát vào đầu của Nguyễn Ngọc H gây thƣơng tích, khi ông Nguyễn Minh T chạy đến can ngăn thì bị Q tiếp tục cầm cây đánh trúng vào tay ông T gây thƣơng tích.

Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích của Trung Tâm pháp y thuộc Sở Y Tế tỉnh Bình Dƣơng số: 306/2016/GĐPY ngày 08/9/2016 đối với Võ Ngọc H đƣợc xác định: Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên hiện tại là 20% và Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số: 307/2016/GĐPY ngày 08/9/2016 đối với Nguyễn Minh T đƣợc xác định: Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên hiện tại là 15%.

Hành vi của bị cáo đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành Tội cố ý gây thƣơng tích, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự.

Do đó Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy tố bị cáo về Tội cố ý gây thƣơng tích, theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm về sức khỏe của ngƣời khác một cách trái pháp luật, làm ảnh hƣởng an ninh trật tự xã hội tại địa phƣơng. Bị cáo nhận thức rõ hành vi dùng cây gỗ tầm vông là hung khí nguy hiểm đánh vào đầu của ngƣời bị hại Võ Ngọc H và tay ngƣời bị hại Nguyễn Minh T gây tổn hại về sức khỏe và có thể gây thiệt hại về tính mạng của ngƣời bị hại, hành vi này là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị, nhƣng vì coi thƣờng pháp luật, thích dùng vũ lực giải quyết mâu thuẫn, nên bị cáo cố ý phạm tội. Vì vậy cần xét xử và áp dụng mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ, hậu quả phạm tội đã thực hiện có xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

Về tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động vợ là Lê Thị T bồi thƣờng thiệt hại khắc phục hậu quả; ngƣời bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo các điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Xét cần áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo theo Nghị quyết số 144/2016/QH13 của Quốc hội về lùi hiệu lực thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo và các bị hại thống nhất thỏa thuận bị cáo bồi thƣờng cho ông Võ Ngọc H số tiền 40.000.000 đồng, bồi thƣờng cho ông Nguyễn Minh T số tiền 40.000.000 đồng.

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử vợ bị cáo là Lê Thị T đã tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận An số tiền 60.000.000 đồng để bồi thƣờng thiệt hại, khắc phục hậu quả cho các bị hại, nên tiếp tục tạm giữ số tiền này để đảm bảo thi hành án. Bà T không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền này nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 cây gỗ tầm vông mà bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã vứt bỏ không thu hồi đƣợc; 01 mỏ hàn chì mà ngƣời bị hại Võ Ngọc H sử dụng đã bị mất không thu hồi đƣợc nên không đặt ra xem xét.

Đối với Đoàn Văn Đ có hành vi đánh ông Lâm Võ T, ông T từ chối trƣng cầu giám định và không yêu cầu xử lý hình sự, ông Đ không có hành vi đồng phạm với bị cáo nên Công an thị xã Thuận An đã xử lý hành chính đối với ông Đ là đúng quy định.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn Q phạm Tội cố ý gây thƣơng tích.

Áp dụng khoản 2 Điều 104; các điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Áp dụng Nghị quyết số 144/2016/QH13 của Quốc hội về lùi hiệu lực thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt Đoàn Văn Q 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/12/2016.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 Bộ luật Hình sự; Điều 609 Bộ luật Dân sự năm 2005

Bị cáo Đoàn Văn Q phải bồi thƣờng cho ông Võ Ngọc H số tiền 40.000.000 đồng, bồi thƣờng cho ông Nguyễn Minh T số tiền 40.000.000 đồng.

Đƣợc khấu trừ số tiền 60.000.000 đồng mà bà Lê Thị T đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000056 ngày 19/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận An, tiếp tục tạm giữ số tiền này để chi trả cho ông H, ông T mỗi ngƣời 30.000.000 đồng.

Bị cáo còn phải bồi thƣờng thêm ông Võ Ngọc H số tiền 10.000.000 đồng, bồi thƣờng cho ông Nguyễn Minh T số tiền 10.000.000 đồng.

Kể từ ngày ngƣời đƣợc thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, nếu ngƣời phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Đoàn Văn Q phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ