vanban.org

Bản án 120/2017/HSST — Hình sự

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 19/07/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Hồng H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: PHẠM HỒNG H 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam: 09/02/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "PHẠM HỒNG H - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Hồng H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 194 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN BÌNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 120/2017/HSST
Ngày : 19/7/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trí

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Văn Bình

2/ Ông Nguyễn Minh Tuân

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Trúc Quỳnh - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Tân Bình - Tp. Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Diệu Sen - Kiểm sát viên

Ngày 19 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 122/2017/HSST ngày 02 tháng 6 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: PHẠM HỒNG H; giới tính: nam; sinh năm: 1987 tại Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 1347 đườ ng A, phường B quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 1347 đườ ng A, phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; con ông: Phạm Cao T và bà: Khuất Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: 09/02/2017.

(Có mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

1. Anh Vũ Đức K, sinh năm 1987

Địa chỉ : Số 64/2D đườ ng D, phường E, quận F, Thành phố Hồ Chi Minh.́

(Vắng mặt tại phiên tòa)

2. Anh Ngô Ký P, sinh năm 1996

Địa chỉ: Số 80/2 Đườ ng số 12, phườ ng G, quâ ̣n H, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Vắng mặt tại phiên tòa)

NHẬN THẤY:

Bị cáo Phạm Hồng H bị Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 20 giờ 15 phút ngày 09/02/2017, phát hiê ̣n Phạm Hồng H điều khiển xe môtô hiệu Yamaha Exciter màu trắng-đỏ, biển số: 50N1-113.61 lưu thông trên đường Phạm Văn Hai thuộc phường 5, quận Tân Bình có biểu hiện nghi vấn nên Tổ tuần tra - Đội Cảnh sát điều tra tội phạm Ma túy, Công an quận Tân Bình đưa H cùng phương tiện về trụ sở Công an phường 5, quận Tân Bình làm rõ. Tiến hành kiểm tra phát hiện Pha ̣m Hồng H có hành vi tàng trữ 02 gói nylon hàn kín, chứa chất tinh thể không màu (Kết luận giám định số 429/KLGĐ-H ngày 23/02/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Chất tinh thể không màu có khối lượng 1,2268g là ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine) .

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Hồng H tại địa chỉ: 1347 đườ ng A, phường B, quận C kết quả: thu giữ trên bàn gỗ trước kệ ti vi trong phòng ngủ của H ở lầu 2 gồm 01 cân điện tử và một số bịch nylon nhỏ.

Qúa trinh điều tra Phạm Hồng H khai: Do nghiện ma túy nên H đà

mua ma túy về̃ bán la ̣i để có tiền tiêu xài và có ma tú y dư ra để sử du ̣ng, cu ̣ thể : Khoảng 17 giờ ngày 09/02/2017, có người tên Ke (không rõ lai lịch) gọi điện thoại cho H đặt mua 1.200.000 đồng ma tú y đá và hẹn nhận hàng tại Hồ bơi Cộng Hòa, quận Tân Binh. Đến khoảng 19̀ giờ cùng ngày, H điều khiển xe môtô hiệu Yamaha Exciter màu trắng-đỏ biển số: 50N1-113.61 đến phòng trọ cạnh số 122 Cư xá Đường sắt, Lý Thai Tổ, phường 1, Quận 3 gặp ngườ i phụ nữ tên Hương (không rõ lai lịch) mua ma túy với giá 1.000.000 đồng, mua xong H cất giấu trong người điều khiển xe trên đường đến điểm bán ma túy cho Ke thì bị bắt qủa tang. H khai đã bán ma túy được 03 lần vào thời điểm trước Tết âm lịch 2017: 02 lần tại Quận 3 và 1 lần tại Hồ bơi Cộng Hòa quận Tân Bình, thu lợi được số tiền 800.000 đồng .

Đối với đối tượng tên Hương là người bán ma tú y cho H và tên Ke là người go ̣i điê ̣n cho H để hỏi mua ma tú y, do không xác định được lai lịch nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra xử lý.

Vật chứng thu giữ của H:

Thu giữ trong túi phía trước quần Jean của Phạm Hồng H đang mặc có 02 gói nylon hàn kín chứa chât tinh thể không màu, được niêm phong bên ngoài có hình dấu vân tay, chữ ký xác nhận của Phạm Hồng H và có dấu của Công an phường 5, quận Tân Bình.

- 01 điện thoại di động hiệu KINGZONE màu đen;

- 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu trắng, đỏ, biển số: 50N1-118.61;

- số tiền 3.720.000 đồng;

- 01 cân điện tử và một số bịch nylon nhỏ.

Tại bản cáo trạng số 96/CTr-VKS ngày 29 tháng 5 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Phạm Hồng H về tô ̣i “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa hôm nay, sau phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phạm Hồng H về tô ̣i “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, đồng thời đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

XÉT THẤY:

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như cáo tra ̣ng của Viện kiểm sát đã truy tố và khai:

Bản thân bi ̣ cáo nghiê ̣n ma tú y nên khi có ngườ i go ̣i điê ̣n hỏi mua ma tú y thi bi ̣̀ cáo đi mua rồi bán la ̣i kiếm lờ i cũng như để có ma tú y dư ra sử du ̣ng, bi ̣ cáo đa bã ́n ma tú y trót lo ̣t 3 lần thu lợi được 800.000 đồng nhưng không nhớ ngày mua bán. Riêng lần thứ 4 thi và ̀o khoảng 17 giờ ngày 09/02/2017, có người tên Ke (không rõ lai lịch) gọi điện thoại cho bi ̣ cáo hỏi mua 1.200.000 đồng ma tú y đá và hẹn nhận hàng tại Hồ bơi Cộng Hòa, quận Tân Binh. Bi ̣ cáo đồng ý nên đa đến phòng trọ cạnh số 122 Cư xá̃ Đường sắt, Lý Thai Tổ, phường 1, Quận 3 gặp ngườ i phụ nữ tên Hương (không rõ lai lịch) mua 1.000.000 đồng ma tú y, đến khoảng 19 giờ cùng ngày, bi ̣ cáo cha ̣y xe đến điểm he ̣n để bán ma tú y cho tên Ke, nhưng trên đườ ng đi thì bi ̣ Công an kiểm tra và bắt giữ.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Xét hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo, căn cứ kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, căn cứ các điều luật tương ứng do Bộ luật hình sự quy định. Hội đồng xét xử xét thấy đã đủ cơ sở pháp lý để kết luận bị cáo Phạm Hồng H đã pha ̣m vào tô ̣i “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 như cáo tra ̣ng Viê ̣n kiểm sát đa truỹ tố.

Hành vi cất giữ 1,2268 gam ma tú y loại Methamphetamine nhằm mục đích bán la ̣i kiếm lờ i của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương.

Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy nên bị cáo biết tác hại của việc sử dụng, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy và biết pháp luật trừng trị rất nghiêm khắc loại tội phạm ma túy, nhưng do coi thường pháp luật nên bị cáo đã cố ý phạm tội. Đối vớ i bi ̣ cáo, Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n thấy cần xử mức án phù hợp mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung, đồng thời để tạo điều kiện cho bị cáo từ bỏ việc sử dụng ma túy.

Tuy nhiên, xét thấy tại cơ quan điều tra và phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 để giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Về trách nhiê ̣m dân sự: Qúa trinh điều tra và

̀ ta ̣i phiên tòa bi ̣ cáo khai đa 3 lầñ bán trót lo ̣t ma tú y cho các đối tượng nghiê ̣n và thu lợi được 800.000 đồng. Tuy nhiên do ngoài lờ i khai của bi ̣ cáo, thi trong qù

́a trinh điều tra Cơ quan điều tra không thu thâ ̣̀

p được tài liê ̣u chứ ng cứ nào chứ ng minh bi ̣ cáo đa bã ́n ma tú y nhiều lần và thu lợi bất chinh đượ́

c 800.000 đồng nên không có căn cứ để buô ̣c bi ̣ cáo nô ̣p la ̣i sung qũy nhà nướ c.

Về vật chứng:

- Đối với 01 gói niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Phan Hoàng Tra ̣c ghi số 429 (bên trong là số ma túy còn lại sau giám định) là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 cân điện tử và 05 bịch nylon nhỏ là dụng cụ bị cáo phân chia ma túy để bán, xét không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu KINGZONE màu đen, không có số imei. Bị cáo đã sử dụng vào việc liên lạc mua bán ma tuý nên tịch thu sung quỹ Nhà nước;

- Đối với chiếc xe gắn máy biển số 50N1-113.61, số khung: RLCUG0610GY198202, số máy: G3D4E211106. Kết quả xác minh xe do anh Ngô Ký P đăng ký chủ sở hữu. Anh P khai sau mô ̣t thờ i gian sử du ̣ng đã bán la ̣i cho người tên K, nhưng chưa làm thủ tu ̣c sang tên. Bị cáo khai mượn xe máy của anh Vũ Đức K. Anh K khai xe trên mua của ông P nhưng không làm giấy mua bán, mà chi giao xe vả

̀ giấy chứ ng nhâ ̣n đăng ký xe, hiê ̣n nay anh cũng chưa làm thủ tu ̣c sang tên. Anh cho H mượn xe, không biết việc H sử dụng vào việc phạm tội. Xét thấy xe gắn máy biển số 50N1-113.61, số khung: RLCUG0610GY198202, số máy: G3D4E211106 có nguồn gốc rõ ràng, anh Vũ Đứ c K xuất trinh đượ̀

c giấy chứ ng nhâ ̣n đăng ký xe bản chinh vá

̀ chi ̣u trách nhiê ̣m về tinh hợ́

p pháp của chiếc xe, do đó Hô ̣i đồng xét xử thống nhất trả la ̣i xe cho anh Vũ Đứ c K.

- Đối với số tiền 3.720.000đ (ba triệu, bảy trăm hai mươi ngàn đồng) do Công an thu giữ khi bắt bi ̣ cáo. Qúa trinh điều tra xà

́c đi ̣nh là tài sản cá nhân của bi ̣ cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phạm Hồng H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009;

Xử phạt: PHẠM HỒNG H 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam: 09/02/2017.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

Trả la ̣i cho anh Vũ Đứ c K chiếc xe máy biển số: 50N1-113.61, số khung: RLCUG0610GY198202, số máy: G3D4E211106 (Tình trạng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 128/PNK ngày 24/5/2017 của Công an quận Tân Bình).

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu KINGZONE màu đen, không có số imei (Tình trạng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 128/PNK ngày 24/5/2017 của Công an quận Tân Bình).

Trả lại cho bị cáo Phạm Hồng H: số tiền 3.720.000đ (Ba triệu, bảy trăm hai mươi ngàn đồng).

Tịch thu: 01 gói niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Phan Hoàng Trạc ghi số 429 (bên trong là số ma túy còn lại sau giám định); 01 cân điện tử và 05 bịch nylon nhỏ để tiêu huỷ (Tình trạng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 128/PNK ngày 24/5/2017 của Công an quận Tân Bình).

Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghi ̣ quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui đi ̣nh về mứ c thu, miễn, giảm, thu, nô ̣p, quản lý và sử du ̣ng án phí và lê ̣ phi Tó ̀a án:

Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sư có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015).

Hội đồng xét xử đã giải thích về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án cho đương sự theo quy định tại điều 26 Luật Thi hành án (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015).

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Ngườ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hoặc ngày Tòa án tống đạt, niêm yết bản án hợp lệ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ