- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "giữa ngân hàng K và C"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP SGTT.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:120/2017/DS-ST Ngày: 26/9/2017 V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Vũ Hoài Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Thanh;
2. Ông Dương Trần Trọng Quang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 26 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 208/2017/TLST-DS ngày 06/6/2017 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2017/QĐXX-ST ngày 25/8/2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 73A/2017/QĐST-DS ngày 08 tháng 9 năm 2017, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP SGTT
Địa chỉ: A - B NKKN, Phường C, Quận D, thành phố H
Đại diện theo pháp luật: Ông Phan Huy K – Tổng Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1980 – Giám đốc Ngân hàng TMCP SGTT chi nhánh T.
Đại diện theo ủy quyền lại ông Nguyễn Văn N (có mặt) – Trưởng phòng giao dịch C – Chi nhánh T, theo văn bản ủy quyền ngày 25/7/2017.
2. Bị đơn: Chị Thái Thị Kim C, sinh năm 1980 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện đề ngày 03/4/2017, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP SGTT và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là anh Nguyễn Văn N trình bày: Vào ngày 23/4/2013, Chị Thái Thị Kim C có ký kết hợp đồng tín dụng số LD1411300191 với Ngân hàng TMCP SGTT – Chi nhánh T để vay số tiền là 50.000.000đồng, thời hạn vay là 48 tháng, lãi suất là 0,75% và phương thức trả nợ theo phương thức trả dần hàng tháng bao gồm vốn gốc và lãi. Đến ngày 24/4/20116, Ngân hàng đã giải ngân cho chị C và chị C đã ký nhận tiền xong.
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng vay, chị C đã trả cho Ngân hàng số tiền gốc là 28.486.000đồng và 9.750.000đồng tiền lãi. Nên tính đến ngày 04/8/2017, chị C còn nợ Ngân hàng số tiền là 30.953.555đồng, bao gồm: Tiền nợ gốc là 21.514.000đồng, tiền lãi là 8.250.000đồng và tiền lãi phạt là 1.189.556đồng. Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu chị C phải trả nợ cho Ngân hàng nhưng chị C không thực hiện.
Do đó, nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị C phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ là 30.953.555đồng, trả ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
* Phần trình bày ý kiến của bị đơn là Chị Thái Thị Kim C: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử sơ thẩm Tòa án không thu thập được tài liệu, chứng cứ nào của chị C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng TMCP SGTT có đơn khởi kiện đối với chị C. Chị C có địa chỉ tại địa bàn huyện Cai Lậy nên căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân hàng TMCP SGTT khởi kiện chị C để tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Căn cứ vào Điều 471 Bộ Luật dân sự năm 2005, đây là quan hệ pháp luật tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”.
. Về yêu cầu đương sự: Tại phiên tòa hôm nay, phía đại diện Ngân hàng là anh N vẫn giữ yêu cầu buộc chị C phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và lãi tổng cộng là 30.953.555đồng, trả ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, Hội đồng xét xử nhận định: Giao dịch giữa Ngân hàng và chị C là có thật, được thể hiện trong hợp đồng mà hai bên đã ký kết.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, chị C đã lãnh số tiền vay là 50.000.000đồng và Chị đã thanh toán cho Ngân hàng theo thỏa thuận nhưng kể từ ngày 04/8/2014, thì ngưng không thực hiện đúng theo thỏa thuận giữa các bên.
Hội đồng xét xử nhận thấy, việc vi phạm thỏa thuận trong hợp đồng là do hoàn toàn của chị C nên chị C phải có nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ còn lại và bao gồm cả mức lãi phạt cho Ngân hàng.
Tính đến ngày 31/10/2016, chị C đã trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 28.486.000đồng và tiền lãi là 9.750.000đồng. Do đó, chị C còn phải thanh toán số tiền nợ gốc còn lại là 21.514.000đồng, 8.250.000đồng tiền lãi và 1.189.556đồng tiền lãi phạt theo hợp đồng tín dụng.
Đối với chị C, Chị không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và vắng mặt suốt giai đoạn xét xử sơ thẩm nên coi như Chị đã từ bỏ quyền chứng minh của mình và mặc nhiên thừa nhận số tiền nợ nói trên. Do đó, Hội đồng xét xử chỉ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét yêu cầu của Ngân hàng.
Do đó, đã có đủ cơ sở buộc chị C phải trả nợ cho Ngân hàng TMCP TT với số tiền nợ tổng cộng gốc, lãi và lãi phạt là 30.953.555đồng.
. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Chị C phải chịu án phí DSST.
. Về quyền kháng cáo của đượng sự: Có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 264; Điều 266; Điều 267; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 471 Bộ luật dân sự 2005;
- Áp dụng Luật tổ chức tín dụng năm 2010;
- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Tuyên Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP SGTT.
Buộc Chị Thái Thị Kim C phải có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng TMCP SGTT số tiền là 30.953.555đồng (Ba mươi triệu chín trăm năm mươi ba ngàn năm trăm năm mươi lăm đồng), trả ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 27/9/2017, chị C còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản tiền nợ gốc.
- Về án phí DSST: Buộc Chị Thái Thị Kim C phải chịu 1.547.677 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng TMCP SGTT được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 759.000 đồng theo biên lai thu tiền số 14495 ngày 06/6/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cai Lậy.
- Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh N có quyền kháng cáo bản án này, chị C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh TG; - VKSND H. Cai Lậy; - Chi cục THADS H. Cai Lậy; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Vũ Hoài Phương |