vanban.org

Bản án 12 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Tạ Thúy H được ly hôn anh Hoàng Văn T.

Về con chung: Giao cho chị Tạ Thúy H nuôi dưỡng 02 con chung là Hoàng Thế K, sinh ngày 10/11/2015 và Hoàng Trà M, sinh ngày 15/4/2011. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không xem xét giải quyết.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hòa Tước"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Tạ Thúy H được ly hôn anh Hoàng Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC GIANG
B¶n ¸n sè: 12/2023/HNG§-ST
Ngµy 16/3/2023

V/v "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Anh Dũng

2. Ông Nguyễn Quốc Sửu

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Xuân Trường – Thẩm tra viên

- Đại diện VKSND huyện Tân Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 255/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/02/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Tạ Thuý H, sinh năm 1978 (xin vắng mặt)

Nơi cư trú: xóm Đồng Kim, xã Song V, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

Nơi cư trú: xóm Đồng Kim, xã Song V, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

Hiện ở: Số 81/5 khu phố Bình Quấy A, phường Bình Chuẩn, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

2. Bị đơn: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1974 (đề nghị xét xử vắng mặt)

Nơi cư trú: thôn Đồng Kim, xã Song V, huyện Tân Yên, Bắc Giang.

Hiện đang tạm giam tại Trại giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội.

Địa chỉ: Ngõ 702, Phúc Diễn, Từ Liêm, Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai và biên bản lấy lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Tạ Thúy H trình bày:

Chị và anh T có tìm hiểu trên cơ sở tự rồi đăng ký kết hôn tại UBND xã Song V ngày 24/12/2004. Sau khi cưới chị về làm dâu gia đình anh T khoảng hơn 01 năm thì ra ở riêng. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2009 thì anh T sa ngã vào nghiện ma tuý dẫn đến vợ chồng phát sinh mẫu thuẫn, cãi chửi nhau, chị nhiều lần khuyên anh T cai nghiện nhưng không cai được mà ngày càng sa vào nghiện nặng hơn làm mâu thuẫn trở nên trầm trọng dẫn đến chị không thể tiếp tục chung sống với anh T được nữa vì anh T hay doạ, đuổi chém mẹ con chị. Đến năm 2020 chị đã cùng hai con bỏ trốn nhà đi làm ăn xa, cũng từ đó chị không liên lạc gì với anh T nữa, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay không ai quan tâm gì nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng đã hết nên đề nghị được ly hôn với anh T.

Về nuôi dưỡng con chung: Chị và anh T có 02 con chung là Hoàng Thế K, sinh ngày 10/11/2015; Hoàng Trà M, sinh ngày 15/4/2011, hiện đang ở với chị, khi ly hôn, chị xin được nuôi cả 02 con chung, vì anh T nghiện ma tuý nên không yên tâm để anh T nuôi các con, chị không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng.

- Về tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ chung về tài sản, công nợ, công sức đóng góp trong thời gian ở chung, ruộng canh tác: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà hôm nay chị H có đơn xin xét xử vắng mặt.

Tại bản tự khai bị đơn là anh Hoàng Văn Phước trình bày:

Anh kết hôn với chị H năm 2004, trước khi kết hôn có tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND xã Song V. Nguyên nhân phát sinh mẫu thuẫn là do anh mắc nghiện ma túy, vợ chồng sống ly thân từ năm 2020 đến nay chị H xin ly hôn anh đồng ý ly hôn với chị H.

- Về nuôi dưỡng con chung: Vợ chồng anh có 02 con chung là Hoàng Thế K, sinh ngày 10/11/2015; Hoàng Trà M, sinh ngày 15/4/2011, hiện đang ở với chị H, khi ly hôn, anh đồng ý để chị H nuôi dưỡng con chung cháu Hoàng Thế K, anh xin nuôi cháu Hoàng Trà M, anh không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng.

- Về tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ chung về tài sản, công nợ, công sức đóng góp trong thời gian ở chung, ruộng canh tác: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà anh T đề nghị xét xử vắng mặt.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đảm bảo theo quy định.

Đối với những người tham gia tố tụng: Các đương sự chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Xử cho chị H được ly hôn anh T, giao cho chị H nuôi dưỡng cả 02 con chung, không giải quyết về cấp dưỡng, chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết, thủ tục tố tụng: Chị H khởi kiện yêu cầu ly hôn và con chung với anh T có nơi cư trú tại thôn Đồng Kim, xã Song V, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân huyện Tân Yên đã thụ lý giải vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình là đúng pháp luật, đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành H giải nhưng không thành nên đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định.

Tại phiên tòa, chị H, anh T đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt những đương sự này là đúng quy định tại Điều 227 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị H, anh T kết hôn ngày 20/01/2005 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Song V nên hôn nhân giữa anh chị là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống đến khoảng đầu năm 2020 thì phát sinh mẫu thuẫn, nguyên nhân là anh T sa vào nghiện ma túy làm cho mâu thuẫn trở nên trầm trọng, chị H đã bỏ làm ăn xa từ năm 2020 đến nay không về sống với anh T, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay không ai quan tâm gì nhau nữa. Nay chị H, anh T đều xác định không còn tình cảm vợ chồng và đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị ly hôn nhưng các đương sự đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy, mâu thuẫn giữa chị H, anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần xử cho chị H, ly hôn anh T là phù hợp.

[3] Về nuôi dưỡng con chung: Vợ chồng chị H và anh T có 02 con chung là Hoàng Thế K, sinh ngày 10/11/2015 và Hoàng Trà M, sinh ngày 15/4/2011, hiện đang ở với chị H. HĐXX thấy, con chung hiện nay do chị H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, anh T đồng ý để chị H nuôi dưỡng cháu Hoàng Thế K, anh xin nuôi cháu Hoàng Trà M. Tuy nhiên, từ năm 2020 chị H và hai cháu đã cùng đi làm ăn ở Miền Nam và đã cho các cháu đi học tại đó, cuộc sống của 3 mẹ con đã ổn định hơn, trong thời gian ly thân chị H một mình nuôi dưỡng các cháu phát triển nên để đảm bảo sự ổn định cuộc sống, quyền lợi mọi mặt của con chung nên cần giao cả 02 con chung cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

- Vê yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Chị H và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét.

Sau khi ly hôn, anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở anh T thực hiện quyền, nghĩa vụ này.

[4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, công sức đóng góp trong thời gian ở chung, ruộng canh tác: Chị H và anh T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Tạ Thúy H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 144, khoản 1 Điều 146, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Tạ Thúy H được ly hôn anh Hoàng Văn T.

2. Về con chung: Giao cho chị Tạ Thúy H nuôi dưỡng 02 con chung là Hoàng Thế K, sinh ngày 10/11/2015 và Hoàng Trà M, sinh ngày 15/4/2011.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở anh T thực hiện quyền, nghĩa vụ này

3. Về án phí: Chị Tạ Thúy H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011852 ngày 14 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên. Xác nhận chị Tạ Thúy H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án./.

Cỡ chữ