- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly Hôn"
- Tòa quyết gì? Áp dụng pháp luật: Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật HNGĐ năm 2014,
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
Toà án nhân dân huyện Th O. Hà Nôi | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 12/2021-HNGĐ-ST Ngày: 25/03/2021 |
HUYỆN TH O, TP. HÀ NỘI Độc lập - Tự do - Hạnh Phc --------------------------- chị Nguyễn Thị Th TOÀ ÁN
NHÂN DÂN H
UYỆN TH O Thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã: Thâm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Khải lội thẩm nhân dân: Ông Lê Huy Trọng; Bà Nguyễn Thị Nguyệt - Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Đỗ Văn Thường, Thẩm Toà án nhân dân huyện Th O. Hà Nôi - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện ThO.: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm Kiểm sát viên Ngày 25 tháng 3 năm 2021 tại: Trụ sở Toà án nhân dân huyện Th O, Thành phố Hà Nội; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 30/2021/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2021 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2021/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Ứng Văn S, sinh năm 1993 Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1997 Đều trú tại: Thôn Rùa H ,xã Th Th, huyện Th O, Hà Nội. Tại phiên tòa Chị Th, anh S có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN;
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu và lời trình bày của các đương sự có trong hồ sơ, vụ án có nội dung như sau: Nguyên đơn Anh Ứng Văn S trình bày : Anh và chị Nguyễn Thị Th kết hôn với nhau ngày 20/10/2016 trên cơ sở có sự tìm hiểu, tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Th Th, Th O, Hà Nội . Sau khi cưới chị Th về nhà anh ở ngay, vợ chồng ở chung với bố mẹ anh. Sau cưới anh và chị Th đều làm nghề cơ khí .Vợ chồng hạnh Phc được hơn 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do giữa 2 vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống, không hợp tính nhau, thường xuyên va chạm nhau. Anh S cho rằng chị Th không trung thực trong cuộc sống, hay nói dối anh và có ý định không muốn chung sống cùng anh. Vợ chồng ly thân nhau vào đầu tháng 7/2019, anh đã gọi chị Th về nhiều lần nhưng chị Th kiên quyết không về, từ đó vợ chồng không đi lại, hỏi han quan hệ gì với nhau nữa. Nay xét tình cảm không còn, anh xin được ly hôn chị Th. Về con chung: Vợ chồng anh có 1 con chung là Ứng Hoàng Thiên Ph, sinh
19/11/ 2017 đang ở với chị Th từ khi 1 tuổi. Anh S xin nuôi con và không yêu cầu chị Th đóng góp trợ cấp nuôi con chung. Về tài sản chung: không có, anh không yêu cầu giải quyết Về công sức, công nợ chung: không có, anh không yêu cầu giải quyết. Bị đơn: Chị Nguyễn thị Th trình bầy: Chị và anh Ứng văn S kết hôn với nhau ngày 20/10/2016 như anh S nói là đúng, lấy nhau có sự tìm hiểu, tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Th Th, Th O, Hà Nội . Sau khi cưới chị về nhà anh S ngay, vợ chồng ở chung với gia đình anh S. Sau cưới chị và anh S đều làm nghề cơ khí.Vợ chồng hạnh Phc được hơn 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do sau khi cưới được 2 tháng, trong khi chị đang lao động sản xuất cơ khí tại gia đình nhà chồng thì không may tay phải của chị bị cuốn vào máy sắt, làm tôi bị cụt 3 ngón tay bàn tay phải, từ đó chị bị hạn chế sức lao động, và cũng từ đó sinh ra mâu thuẫn giữa chị và bố mẹ chồng. Bố mẹ chồng luôn nghi ngờ chị nói xấu gia đình chồng nên thường xuyên va chạm với chị, bố mẹ chồng nhiều lần chửi và đuổi chị ra khỏi nhà. Vợ chồng chị đã phải ly thân nhau vào ngày 30/6/2019, quá trình ly thân, chị có nhắn tin cho anh S, chủ động nhắc anh đến đón mẹ con chị về, nhưng anh S cố tình không đón mẹ con chị, nên từ đó đến nay, gia đình anh S và anh S không gọi chị về lần nào nữa, một mình chị phải nuôi con mấy năm nay từ khi cháu còn 1 tuổi, gia đình anh S và anh S không ngó ngàng, đoái hoài gì đến, từ đó vợ chồng không đi lại quan hệ, hỏi han gì nhau nữa. Nay chị xét thấy tình cảm vẫn còn, chị không muốn con cái phải khổ, anh S xin ly hôn, chị không đồng ý ly hôn mà xin đoàn tụ, nhưng nếu anh S đồng ý giao con cho chị nuôi thì chị cũng nhất trí ly hôn. Về con chung: Vợ chồng chị có 1 con chung là Ứng Hoàng Thiên Ph, sinh 19/11/ 2017 đang ở với chị từ nhỏ khi còn 1 tuổi. Nay chị xin nuôi con và không yêu cầu anh S đóng góp nuôi con chung Về tài sản chung: không có, chị không yêu cầu giải quyết Về công sức, công nợ chung: không có, chị không yêu cầu giải quyết Tại phiên toà, các đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm. Đại diện VKS phát biểu ý kiến: Thẩm phán, thư ký và hội đồng xét xử đã giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật, xác định đúng tư cách đương sự, kiên trì hoà giải nhưng không thành VKS xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị HĐXX cho anh S được ly hôn chị Th.
Về con chung : Đề nghị HĐXX giao con chung là cháu: Ứng Hoàng Thiên Ph, sinh 19/11/ 2017 cho chị Th tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, để ổn định cuộc sống và tâm lý cho 2 mẹ con chị Th, tạm hoãn việc đóng phí tổn nuôi con chung cho anh S. Về tài sản chung, công sức, công nợ: Không có nên không xem xét. NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào ý kiến của kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
nhận định: Về tố tụng: Đối với các đương sự ( Anh S và chị Th) đã được tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quá trình hoà giải, nguyên đơn xác nhận tình cảm không còn kiên quyết xin ly hôn, còn bị đơn trình bầy nếu được nuôi con thì chị cũng đồng ý ly hôn. Như vậy hội đồng xét xử xét thấy tình cảm đã thực sự không còn nữa, mục đích hôn nhan không đạt được. Về nội dung: Xét quan hệ hôn nhân: Anh S và chị Th kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký tại UBND xã có thẩm quyền, có sự tìm hiểu, có đăng ký tại UBND xẫ Th Th, Th O, Hà Nội. Đây là hôn nhân tự nguyện, tiến bộ và đúng pháp luật Xét thấy mâu thuẫn giữa anh S và chị Th là trầm trọng, đời sống chung không hể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, Vì vậy cần chấp nhận đơn yêu cầu của anh S xử cho anh S được ly hôn chị Th để hai bên ổn đinh cuộc sống. Về con chung: Chị Th nuôi con Ứng Hoàng Thiên Ph, sinh 19/11/2017 từ nhỏ, khi chaú còn 1 tuổi, bản thân chị Th vẫn đi lại được bằng xe máy, vẫn lao động kiếm tiền trên Olai nên thu nhập khá ổn định, mỗi tháng thu nhập trên 10.000.000 đ. Nay chị có nguyện vọng xin tiếp tục xin nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Ph. Xét nguyện vọng đó của chị Th là chính đáng, có lý có tình, phù hợp
quy định của pháp luật nên cần chấp nhận giao cháu cho chị Th tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, tạm hoãn việc đóng góp phí tổn nuôi con chung cho anh S . Về tài sản chung, công nợ chung, công sức: không có nên không xem xét. Án phí: Anh S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo qui định pháp luật Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng pháp luật: Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật HNGĐ năm 2014, điều 147, điều 227, 271,273 BL TTDS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 21/12/2016 về án phí lệ phí Tòa án. Xử cho anh Ứng Văn S được ly hôn chị Nguyễn Thị Th. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Th tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Ứng Hoàng Thiên Ph, sinh 19/11/2017, tạm hoãn việc đóng góp phí tổn nuôi con chung cho anh S cho đến khi con chung trưởng thành 18 tuổi hoặc cho đến khi các bên có yêu cầu mới về người nuôi con chung. Anh S có quyền thăm nom chăm sóc con chung không ai được ngăn cản. Tài sản chung , công nợ chung, công sức vợ chồng: không xem xét. Án phí: Anh S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 02423 ngày 03/3/2021 tại chi cục thi hành án dân sự huyện Th O, TP. Hà Nội Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận: - Nguyên đơn, bị đơn; - VKSND huyện Th O; - Chi cục THA Dân sự huyện Th O. ; - Ủy ban nhân dân xã Thanh Thuỳ - Lu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ph¹m V¨n Kh¶i |