vanban.org

Bản án 12

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Án Phạm Việt Anh - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
Tßa ¸n nh©n d©n
QuËn Thanh xu©n
Thµnh phè Hµ Néi
-------------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B¶n ¸n sè: 12/2020/HS-ST
Ngµy: 14/01/2020

Nh©n danh

N íc céng hßa x· héi chñ nghÜa ViÖt Nam

Tßa ¸n nh©n d©n QuËn Thanh Xu©n

Thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:

- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà PT

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà CTT

Ông ĐNH

- Thư ký phiên tòa: Bà NTH- Cán bộ Tòa án nhân dân quận TX, thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận TX, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà NTTL- Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 14 tháng 01 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận TX, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 261/2019/TLST-HS ngày 16.12.2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 403/2019/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: PVA; sinh ngày 06.6.1999 tại Hưng Yên; Tên gọi khác: không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Đội 1 thôn TT, xã TP, huyện TL, tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú rõ ràng; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 6/12; Con ông: PVK (đã chết); Con bà: NTT (đã chết).

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bị cáo 01 lần bị kết án, 01 lần bị xử lý hành chính.

- Ngày 12.11.2018, Công an huyện TL, Hưng Yên xử phạt hành chính 1.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 31.10.2019, Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật” .

Bị cáo bị tạm giữ ngày 05.10.2019, tạm giam ngày 14.10.2019; hiện đang tạm giam tại Trại giam số 2, Công an thành phố Hà Nội.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: LTA, sinh ngày 02.7.2000; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Tú, xã Xuân Thắng, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở: Không có nơi cư trú rõ ràng; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; con ông: LCT, con bà Cầm Thị Uyên; Tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ ngày 05.10.2019, tạm giam ngày 14.10.2019; hiện đang tạm giam tại Trại giam số 2, Công an thành phố Hà Nội.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo: Trợ giúp viên pháp lý Đinh Thị Thanh Hương thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý NN thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

Anh HTA; sinh năm 1995; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm Co Măn, xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; xin vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

a) Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng 03 giờ ngày 04.10.2019, LTA và PVA đến quán game số 53 Triều Khúc, Phường TX Nam mục đích xin ngủ nhờ. TA và VA đã lên phòng máy tại tầng 3 để kê ghế ngủ. Đến khoảng 9 giờ cùng ngày, VA ngủ dậy và phát hiện anh HTA đang nằm ngủ trên dãy ghế đối diện, bên cạnh người có để một chiếc ví da màu đen. Thấy vậy, VA liền gọi TA dậy rồi chỉ cho TA thấy chiếc ví và tiếp tục ngủ. Sau khi phát hiện chiếc ví của anh TA, TA liền tỉnh dậy rồi đi vòng quanh phòng máy để kiểm tra. Sau đó, TA gọi VA dậy rồi bảo VA ra ngoài đứng cảnh giới còn TA trực tiếp tiếp cận anh TA và lấy trộm chiếc ví bên trong có 6.500.000 đồng, 01 chứng minh nhân dân mang tên HTA, 01 giấy phép lái xe ô tô mang tên HTA. Sau khi trộm cắp được tài sản, TA và VA liền đi xuống tầng rồi thuê xe taxi đi chơi. TA và VA đã tiêu xài hết số tiền 2.500.000 đồng. Khoảng 23 giờ cùng ngày, khi TA và VA đang lang thang tại khu vực gần sân vận động Mỹ Đình thì bị lực lượng công an kiểm tra phát hiện bắt giữ đưa về trụ sở công an để làm rõ.

Công an thu giữ của LTA:

+ Số tiền 4.000.000 đồng;

+ 01 chứng minh nhân dân mang tên HTA,

+ 01 giấy phép lái xe ô tô mang tên HTA

+ 01 ví da đã cũ màu đen kích thước 10x18cm.

+ 01 áo phông màu đỏ ngắn tay;

+ 01 quần đùi màu đen

+ 01 đôi dép adada màu bạc

+ 01 mũ lưỡi trai màu xám.

* Thu giữ của PVA:

+ 01 áo phông ngắn tay màu đen có hoa văn hình mặt người màu vàng;

+ 01 quần đùi màu đen

Tại cơ quan điều tra, LTA và PVA đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên.

b) Về các vấn đề khác của vụ án:

Đối với 01 ví da đã cũ màu đen kích thước 10x18cm anh TA không yêu cầu định giá. Ngày 21.11.2019 Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an quận TX đã trao trả 01 chứng minh nhân dân mang tên HTA, 01 giấy phép lái xe ô tô mang tên HTA, 01 ví da đã cũ màu đen kích thước 10x18cm và số tiền 4.000.000 đồng cho anh HTA, anh TA đã nhận lại tài sản và không yêu cầu LTA và PVA bồi thường số tiền 2.500.000 đồng.

c) Trích dẫn cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp:

Tại bản cáo trạng số 237/CT-VKS ngày 29.11.2019, Viện kiểm sát nhân dân quận TX, thành phố Hà Nội đã truy tố PVA và LTA về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay,

Bị cáo LTA và PVA khai hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Quá trình tòa án giải quyết vụ án, anh HTA có đơn xin bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo LTA, xác nhận đã nhận lại một phần tài sản, đồng ý cho hai bị cáo số tiền 2.500.000 đồng các bị cáo chưa bồi thường, không có yêu cầu bồi thường dân sự.

Người bào chữa cho bị cáo LTA phát biểu quan điểm: Việc Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo LTA phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản trộm cắp đã được thu hồi và trả cho người bị hại, người bị hại có đơn xin giảm trách nhiệm hình sự, bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sông tại vùng đặc biệt khó khăn, bản thân bố bị cáo đã từng tham gia quân đội, lập nhiều thành tích và được tặng Bằng khen. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận TX, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa có quan điểm: giữ nguyên quyết định truy tố LTA và PVA về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Đối với bị cáo PVA: áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015: xử phạt bị cáo PVA từ 9 tháng đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015; áp dụng Điều 55, 56 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt 6 tháng tù của bản án 102/2019/HSST ngày 31.10.2019 của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội , buộc bị cáo PVA phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 15 tháng tù đến 18 tháng tù.

Đối với bị cáo LTA: áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015: xử phạt bị cáo LTA từ 8 tháng đến 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015;

Về bồi thường dân sự: người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì; về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy: 01 áo phông màu đỏ ngắn tay; 01 quần đùi màu đen; 01 đôi dép adada màu bạc; 01 mũ lưỡi trai màu xám thu giữ của LTA; 01 áo phông ngắn tay màu đen có hoa văn hình mặt người màu vàng; 01 quần đùi màu đen thu giữ của PVA.

C¨n cø vµo c¸c tµi liÖu chøng cø ®· ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ; c¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ, trªn c¬ së xem xÐt ®Çy ®ñ, toµn diÖn c¸c chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn…

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an quận TX, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận TX, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Anh HTA vắng mặt; việc vắng mặt của người bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người bị hại, là phù hợp với quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về tội danh và điều luật áp dụng:

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Lời khai của người bị hại, biªn b¶n t¹m gi÷ ®å vËt tµi liÖu;... cã ®ñ c¬ së kh¼ng ®Þnh:

Khoảng 9 giờ ngày 04.10.2019, LTA và PVA có hành vi trộm cắp 01 ví da đã cũ màu đen kích thước 10x18cm bên trong có 01 chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe ô tô mang tên HTA cùng số tiền 6.500.000 đồng của anh HTA tại quán game số 53 Triều Khúc, TX Nam, quận TX, thành phố Hà Nội.

Hành vi của các bị cáo LTA và PVA đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.

Viện kiểm sát nhân dân quận TX, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được quy định trong Bộ luật hình sự là hành vi phạm tội, gây mất trật tự trị an trong xã hội và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo là người đủ 18 tuổi, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vì lợi ích cá nhân vẫn cố ý thực hiện. Do vậy, cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, nghiêm khắc với bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét vai trò của từng bị cáo để có cơ sở cá thể hóa trách nhiệm hình sự. Bị cáo PVA là người khởi xướng, bị cáo LTA là người thực hiện hành vi phạm tội theo sự khởi xướng của PVA. Do đó, PVA phải chịu trách nhiệm hình sự nghiêm khắc hơn.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo LTA và PVA không có tình tiết tăng nặng.

Đối với bị cáo PVA đã bị kết án bằng bản án số 102/2019/HSST ngày 31.10.2019, sau khi bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội nên không xác định là tiền án nhưng là căn cứ để tổng hợp hình phạt theo quy định tại Điều 55, 56 của Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo LTA là dân tộc ít người, sinh sống tại vùng đặc biệt khó khăn, gia đình có bố là người từng tham gia quân đội, bảo vệ tổ quốc, có thành tích được tặng Bằng khen, nhân thân tốt, lần phạm tội này là lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản phạm tội đã được thu hồi trả lại cho người bị hại, người bị hại có đơn xin bãi nại và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Do đó, cũng giảm một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có việc làm ổn định, không có thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Bồi thường dân sự:

Tài sản trộm cắp đã được trả cho người bị hại và người bị hại không yêu cầu bồi thường về dân sự.

Xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 áo phông màu đỏ ngắn tay; 01 quần đùi màu đen; 01 đôi dép adada màu bạc; 01 mũ lưỡi trai màu xám thu giữ của LTA; 01 áo phông ngắn tay màu đen có hoa văn hình mặt người màu vàng; 01 quần đùi màu đen thu giữ của PVA.

Án phí và quyền kháng cáo:

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt.

V× c¸c lÏ trªn;

QuyÕt ®Þnh

1. Tuyên bố các bị cáo LTA và PVA phạm tội “Trộm cắp tài sản”

2- Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, 135, 136; 331, 332, 333, 336, 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

2.1. Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015.

- Xử phạt bị cáo PVA 09 (chín) tháng tù.

Áp dụng Điều 55, 56 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt 6 tháng tù của bản án 102/2019/HSST ngày 31.10.2019 của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội , buộc bị cáo PVA phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 15 tháng tù (mười lăm tháng tù), thời hạn tù tính từ ngày 05.10.2019; được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam của bản án trước từ ngày 19.8.2018 đến ngày 15.11.2018.

2.2. Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015.

- Xử phạt bị cáo LTA 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05.10.2019.

3. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

4. Bồi thường dân sự:

Xác nhận người bị hại đã nhận lại tài sản, tặng cho các bị cáo số tiền còn lại chưa bồi thường là 2.500.000 đồng, không có yêu cầu bồi thường về dân sự.

5. Xử lý vật chứng và các vấn đề khác của vụ án:

Tịch thu tiêu hủy 01 áo phông màu đỏ ngắn tay phía sau có dòng chữ “cậu út TA”; 01 đôi dép adada màu bạc; 01 mũ lưỡi trai màu xám; 01 áo phông ngắn tay màu đen có hoa văn hình mặt người màu vàng; 02 quần đùi màu đen.

Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận TX theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13.01.2020.

6. Án phí và quyền kháng cáo:

- Áp dụng: Điều 23; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.

Bị c¸o LTA và PVA mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại trong vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

¸n xö c«ng khai s¬ thÈm. N¬i nhËn:

Tm. héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm

- TAND Thµnh phè Hµ Néi;

ThÈm ph¸n - chñ to¹ phiªn toµ

- VKSND quËn Thanh Xu©n;

- CA QuËn Thanh Xu©n;

- THADS quËn Thanh Xu©n ;

- BÞ c¸o; L u hå s¬.

PHƯƠNG THẢO

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Cỡ chữ