- Tranh chấp gì? "Trần Văn T Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Trần Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN Huyện Nghi Lộc | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 12 /2018-HSST Ngày 16.03.2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC- TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: ông Đinh Loan Hòa
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Bá Kiên; Ông Bùi Sỹ Cường
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc: Bà Nguyễn Thị Lan Anh- Kiểm sát viên
- Thư kí phiên tòa: Ông Vương Thanh Minh- Thư kí Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc.
Trong ngày 16 tháng 03 năm 2018 tại Hội trường trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc mở phiên tòa công khai để xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 08/2018/HSST ngày 09 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo:
1. Trần Văn T: Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 15 tháng 5 năm 1988 tại huyện N, tỉnh Nghệ An.Nơi ĐKHKTT: Xóm 8, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Lao động tự do; TĐVH: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa giáo.Con ông Trần Văn T và bà Ngô Thị L. Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Cẩm T (đã ly hôn.) Con: Chưa có.
Tiền sự: Ngày 15/01/2017 bị Công an huyện Nghi Lộc xử phạt hành chính về hành vi: "Trộm cắp tài sản". Đã thi hành xong ngày 20/01/2017.
Tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/01/2018 đến ngày 10/01/2018, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú". Có mặt tại phiên tòa.
+. Người bị hại:
Anh Nguyễn Bá P- sinh năm 1993.
Địa chỉ: khối 3, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 23 giờ tối 03.01.2018; Trần Văn T đi làm về đến cây xăng dầu N C tại xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An đổ xăng. Khi đó, cây xăng đã tắt điện nên T dựng xe ở ngoài rồi đi vào phòng trực gọi nhân viên là anh Trần Bá P ra đổ 20.000 đồng tiền xăng.
Khi anh P ra bơm xăng thì T lấy một chiếc điện thoại hiệu Iphon 6 plus của anh P đang xạc pin để trên ghế trong phòng cho vào túi áo khoác và ra lấy xe chạy về nhà.
Đến đầu giờ chiều ngày 04.01.2018, Trần Văn T ra đầu thú tại cơ quan điều tra công an huyện Nghi Lộc và giao nộp chiếc điện thoại lấy trộm được.
Tại Kết luận định giá tài sản số 02/ KL.ĐG ngày 05/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự của huyện Nghi Lộc xác định tổng giá trị tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt là 6.000.000 đồng.
Tài sản bị lấy trộm được xác định là của anh Nguyễn Bá P nên Cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu nên anh P không có yêu cầu bồi thường dân sự gì khác.
Theo Cáo trạng số 14/VKS-HS ngày 08.02.2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc thì bị cáo Trần Văn T bị truy tố về tội danh "Trộm cắp tài sản" khoản 1 theo Điều 173 bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 quy định về hình phạt cho tội danh "Trộm cắp tài sản" và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ được quy định tại điểm b,i, s khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt Trần Văn T từ 6 đến 9 tháng tù;
Bị cáo nói lời sau cùng, xin Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về hòa nhập với cộng đồng, chăm lo gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Về hành vi tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự. Việc xác minh, thu thập vật chứng đúng trình tự, khách quan; Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, khẳng định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng pháp luật.
2. Về cấu thành tội phạm: Tại phiên tòa hôm nay, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai những người tham gia tố tụng; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ cũng như nội dung quy kết của bản Cáo trạng cũng như quá trình tranh tụng: Lúc 23 giờ ngày 03/01/2018, tại cửa hàng xăng dầu N C thuộc xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Trần Văn T đã lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus màu đen của anh Nguyễn Bá P trị giá 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).
Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản xảy ra vào ngày 03.01.2018 nêu trên của Trần Văn T đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản". Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo theo Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng với quy định của pháp luật.
3. Xét tính chất vụ án, nhân thân, tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo:
Đây là vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, hành vi bột phát, đơn giản. Mục đích phạm tội xuất phát từ nhu cầu tiêu xài cho cá nhân. Bị cáo đã lợi dụng sự quản lý chủ quan, lỏng lẻo của chủ tài sản để thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi kể trên là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; Mặc dù có bị cáo đã có gia đình, có công việc nhưng không tu chí lao động mà ham muốn hưởng thụ trên của cải của người khác. Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 15.01.2017 đã bị Công an huyện Nghi Lộc xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản; Việc điều tra, truy tố và xét xử nhanh chóng vụ án là một việc làm kịp thời của các cơ quan tiến hành tố tụng. Đó không chỉ là bài học cho bị cáo mà còn là tiếng chuông cảnh tỉnh cho những thanh thiếu niên không lo lao động làm ăn mà chỉ muốn chơi bời hưởng thụ bất chính.
4. Về tình tiết định khung hình phạt, tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
(4.1) Về định khung hình phạt: Ngày 03.01.2018, bị cáo có hành vi trộm cắp tài sản trị giá 6.000.000 đồng nên bị xét xử theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng quy định.
(4.2) Về tình tiết tăng nặng:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào nhưng có 01 hành vi bị xử phạt hành chính chưa hết thời hiệu xóa tiền sự nên cần xem xét mức hình phạt phù hợp khi lượng hình.
(4.3) Về tình tiết giảm nhẹ:
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; tỏ ra ăn năn hối cải và nhận thức được sai phạm. Lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;Tài sản đã được giao nộp, thu giữ trả lại cho phía bị hại; Người bị hại đã nhận đủ và không có yêu cầu gì thêm và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo tự nguyện ra đầu thú để gánh chịu trách nhiệm hình sự. §©y lµ c¸c t×nh tiÕt gi¶m nhÑ tr¸ch nhiÖm h×nh sù quy ®Þnh t¹i c¸c ®iÓm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
(4.4) Về hình phạt chính; hình phạt bổ sung:
Dựa vào các nhận định trên, cần áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015; Do có nhiều tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên cần áp dụng để xử phạt Trần Văn T mức khởi điểm của khung hình phạt là thỏa đáng. Xét bị cáo là lao động tự do không có công việc và thu nhập ổn định nên tha miễn hình phạt phụ cho bị cáo.
5. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, nay không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét đến.
Bị cáo phải chịu án phí; những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo: Trần Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015;
3. Xử phạt: Trần Văn T 06 (Sáu) tháng tù; Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 04.01.2018 cho đến ngày 10.01.2018.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về Lệ phí, án phí Tòa án buộc Trần Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết bản án.
| N¬i nhËn : - TAND tØnh NghÖ An; - Së Tư ph¸p tØnh NghÖ An; - VKSND huyÖn Nghi Léc, tØnh NghÖ An; - C«ng an huyÖn Nghi Léc, tØnh NghÖ An; - C¬ quan THA d©n sù h. Nghi Léc, tØnh NghÖ An; - Nh÷ng ngưêi tham gia tè tông; - Lưu: Hå s¬, V¨n phßng TAND huyÖn Nghi Léc. | T/m Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm ThÈm ph¸n - chñ to¹ phiªn toµ Đinh Loan Hòa |