vanban.org

Bản án 12

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Bị cáo Vũ Văn Q phạm tội “cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Văn Q 24 (hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Vũ Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Vụ án Vũ Văn Q phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật s…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Bị cáo Vũ Văn Q phạm tội “cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀ TRUNG
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B¶n ¸n sè: 12/2023/HS -ST
Ngµy: 24 - 02 - 2023.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: bà Trịnh Thanh Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Văn Ký và bà Nguyễn Thị Liên.

- Thư ký phiên toà: bà Lê Thị Thư - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: ông Phan Văn Trường - Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 02 năm 2023 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2023/TLST-HS ngày 17/01/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Vũ Văn Q; sinh năm 1973; tại xã H, huyện H, tỉnh T; trú tại: thôn S, xã H, huyện H, tỉnh T; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn H và bà Lê Thị P; có vợ là Nguyễn Thị N và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: không.

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên toà.

Bị hại: Ông Vũ Văn Ch; sinh năm: 1965; nơi cư trú: Thôn S, xã H, huyện H, tỉnh T, vắng mặt.

Người làm chứng: - Anh Bùi Văn C; sinh năm: 1996; nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện H, tỉnh T, vắng mặt.

- Chị Vũ Thị H; sinh năm: 1996; nơi cư trú: Thôn S, xã H, huyện H, tỉnh T, vắng mặt.

- Anh Phạm Hữu Th; sinh năm: 1997; nơi cư trú: Thôn S, xã H, huyện H, tỉnh T, vắng mặt.

- Bà Lại Thị N; sinh năm: 1966; nơi cư trú: Thôn S, xã H, huyện H, tỉnh T, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ, ngày 01/11/2022, Vũ Văn Q đến khu vực đường đê thuộc địa phân thôn S, xã H, huyện H, tỉnh T thì gặp ông Vũ Văn Ch, sinh năm 1965 ở thôn S, xã H, huyện H (là anh trai của Q) đang nói chuyện với anh Bùi Văn C, sinh năm1996, ở thôn M, xã H, huyện H là người lái máy múc đất cho công trình. Q đi lại và nói chuyện với ông Ch về việc cắm cọc mốc giới ruộng của hai gia đình đang canh tác, dẫn đến Q và ông Ch cãi chửi nhau. Sau đó, ông Ch dùng tay xô đẩy làm Q ngã xuống đất. Q nhặt một hòn đá ở ven đường (không xác định được hình dạng) cầm trong lòng bàn tay phải và tiếp tục cãi nhau với ông Ch. Lúc này, chị Vũ Thị H, sinh năm 1996 ở thôn S, xã H, huyện H, tỉnh T (là con gái của Q) từ trong nhà chạy ra, tay trái bế theo con nhỏ, tay phải cầm một cái chổi quét nhà ra chỉ vào mặt ông Ch và nói: “Sao bác suốt ngày đánh bố cháu”, anh Phan Hữu Th, sinh năm 1997 (là chồng của chị H) cũng từ nhà chạy lên xem. Ông Ch giằng co với H và giật lấy cái chổi bẻ gãy và vứt đi. Thấy vậy, Q cầm hòn đá trên tay phải ném về phía ông Ch thì ông Ch tay ôm mặt và ngã xuống đất. Biết ông Ch bị thương nên H và Th vào can ngăn, kéo Q đi về nhà, còn ông Ch được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện.

Hậu quả: Ông Vũ Văn Ch bị thương ở sống mũi, kích thước (1 x 0,5) cm; 01 vết thương vùng trán, kích thước (1 x 0,5)cm; sưng và bầm tím vùng mắt bên phải, được điều trị từ ngày 01/11/2022 đến ngày 10/11/2022 ra viện.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 1230/2022/TTPY ngày 22/11/2022 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Thanh Hóa, kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với ông Vũ Văn Ch được tính theo phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể (Cộng theo phương pháp xác định tỷ lệ % TTCT quy định tại Điều 4 – Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ y tế) là 15% (Mười lăm phần trăm).

Vật chứng thu giữ gồm: 01 chổi quét nhà, cán gỗ hình trụ kích thước 75 x 3 cm, phần cán gỗ bị gãy thành hai đoạn, một đoạn có kích thước 43 x 3 cm và một đoạn có kích thước 32 x 3 cm.

Cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 16/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ, khoản 2, Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng đã truy tố. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm đ, khoản 2, Điều 134; Điều 65; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Q từ 24 tháng đến 27 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 54 tháng; buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo không có khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng với trình tự, thủ tục, thẩm quyền và hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và vật chứng thu giữ được, đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 01/11/2022, tại khu vực đường đê thuộc địa phận thôn S, xã H, huyện H, tỉnh T, Vũ Văn Q đã dùng hòn đá ném vào vùng mặt ông Vũ Văn Ch, gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 15% (Mười lăm phần trăm). Hành vi dùng hòn đá là vật rắn chắc có trong tự nhiên để gây thương tích cho ông Ch, tức bị cáo đã sử dụng hung khí nguy hiểm, thuộc trường hợp quy định tại điểm a, khoản 1, điều 134 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ, khoản 2, Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, để giáo dục bị cáo đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn, hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; Bị hại cũng có lỗi và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bố bị cáo (ông Vũ Văn H) là thương binh thuộc trường hợp gia đình có công với cách mạng, đây được coi là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2, Điều 51 bộ luật hình sự năm 2015.

Bị cáo đã thành khẩn khai báo, hối cải về hành vi của mình, tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại. Giữa bị cáo và bị hại lại là anh em ruột trong gia đình, hành vi bị cáo thực hiện cũng mang tính nhất thời do bột phát và do một phần lỗi của bị hại. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội, chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ khả năng cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

. Về bồi thường: Ông Vũ Văn Ch đã nhận đủ số tiền bồi thường theo thỏa thuận là 112.000.000 đồng. Tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 21/02/2022, ông Ch không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm nên miễn xét.

. Về vật chứng: Đối với 01 chổi quét nhà, cán gỗ hình trụ kích thước 75 x 3 cm, phần cán gỗ bị gãy thành hai đoạn, một đoạn có kích thước 43 x 3 cm và một đoạn có kích thước 32 x 3 cm thuộc sở hữu của chị Vũ Thị H nên Cơ quan điều tra Công an huyện Hà Trung đã trả lại cho chị H là đúng quy định. Đối với hòn đá bị cáo dùng để ném ông Ch, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả nên không có căn cứ để xử lý.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm đ, khoản 2, Điều 134; điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.

1. Về tội danh: Bị cáo Vũ Văn Q phạm tội “cố ý gây thương tích”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Văn Q 24 (hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Vũ Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại tại khoản 3, Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 6, Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Vũ Văn Q phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ