- Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn C - Triệu Thị H"
- Tòa quyết gì? Về áp dụng Điều luật: Áp dụng Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC TH TỈNH HÒA B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2020/HNGĐ - ST Ngày: 09/11/2020 (V/v: tranh chấp ly hôn) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THỦY, TỈNH HÒA BÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Lan H
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Đắc T;
- Ông Đinh Công Th.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu H là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạc Th, tỉnh Hòa B.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc T, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị M, Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 88/2020/TLST- HNGĐ ngày 18/06/2020,về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 30/9/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2020/QĐST - HNGĐ ngày 22/10/2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1979 (có mặt).
- Bị đơn: Chị Triệu Thị H, sinh năm 1981 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: thôn Lão N, xã Phú Lão (nay là xã Phú Ngh), huyện Lạc Th tỉnh Hòa Bình.
- Người làm chứng:
1/ Ông Nguyễn Tiến Tự, sinh năm 1946 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tân Tiến, Đồng Tâm, Lạc Thủy, Hòa Bình.
2/ Bà Vũ Thị Cộng, sinh năm 1946 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tân Tiến, Đồng Tâm, Lạc Thủy, Hòa Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày, bản tự khai cũng như tại phiên toà, nguyên đơn anh Nguyễn Văn Công yêu cầu Toà án giải quyết nội dung sau đây:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 2001, anh Nguyễn Văn Công kết hôn với chị Triệu Thị Hằng; hia bên tự nguyện tìm hiều, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đồng Tâm, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hoà Bình; có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Cưới xong, anh Công và chị Hằng về chung sống cùng bố mẹ đẻ anh Công tại thôn Tân Tiến, xã Đồng Tâm, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình. Sau đó thì vợ chồng anh Công, chị Hằng được dãn dân, làm nhà riêng trên khu kinh tế mới Đầm Vi, xã Phú Lão (nay là thôn Lão Nội, xã Phú Nghĩa), Lạc Thủy, Hòa Bình. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đôi lúc có bất đồng quan điểm, cãi vã nhau; đến khoảng năm 2017 thì vợ chồng tôi để con ở nhà với ông bà nội rồi cùng đi làm ăn xa, mỗi người một nơi, thi thoảng mới về, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn; anh Công, chị Hằng sống ly thân cho đến nay. Khi anh Công quyết định làm đơn ly hôn với chị Hằng thì anh Công đã liên lạc và nói với chị Hằng để về để giải quyết nhưng chị Hằng nói không về được. Nay anh Công thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không còn tồn tại và bản thân anh Công cũng không còn tình cảm vợ chồng với chị Hằng nữa. Do vậy anh Công đề nghị Toà án nhân dân huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình giải quyết cho anh Công được ly hôn với chị Triệu Thị Hằng để anh sớm ổn định cuộc sống riêng.
Về con chung: anh Công và chị Hằng có hai con chung là Nguyễn Văn Nam, sinh ngày 18/6/2001 và Nguyễn Phương Thảo, sinh ngày 04/10/2010. Hiện nay hai con đang do anh Công nuôi dưỡng. Khi ly hôn, anh Công đề nghị đối với con trai lớn Nguyễn Văn Nam hiện nay đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án can thiệp; đối với con gái thứ hai tên Nguyễn Phương Thảo từ nhỏ con ở với anh Công, do anh Công chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Công có nguyện vọng tiếp tục được nuôi dưỡng con và chưa yêu cầu chị Hằng cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: anh Công trình bày sau này anh Công và chị Hằng sẽ tự thỏa thuận, nay chưa yêu cầu Tòa án can thiệp.
Về công nợ chung: anh Công trình bày vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn chị Triệu Thị Hằng: Toà án đã triệu tập hợp lệ nhưng chị Hằng không đến để giải quyết.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà:
- VÒ thñ tôc tè tông: ThÈm ph¸n, Héi ®ång xÐt xö trong qu¸ tr×nh thô lý gi¶i quyÕt vô kiÖn vµ t¹i phiªn tßa h«m nay ®· thùc hiÖn ®óng chøc n¨ng nhiÖm vô, tu©n thñ c¸c quy ®Þnh cña Bé luËt tè tông d©n sù. Việc xét xử vắng mặt chị Hằng và đương sự khác, đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ theo đúng quy định tại Điều 177; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Néi dung vô ¸n:
+ Về quan hệ hôn nhân: xét thấy anh Công và chị Hằng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên đÒ nghÞ Héi ®ång xÐt xö ¸p dông §iÒu 51, 56 LuËt Hôn nhân và gia đình n¨m 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và gi¶i quyÕt cho anh Nguyễn Văn Công ® îc ly h«n víi chị Triệu Thị Hằng.
+ Về con chung: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014, giữ nguyên tình trạng con chung như hiện nay, giao con chung chưa thành niên Nguyễn Phương Thảo, sinh ngày 04/10/2010 cho anh Nguyễn Văn Công nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con trưởng thành hoặc có thay đổi khác. Ghi nhận ý kiến của anh Công chưa yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung: anh Công trình bày sau này tự thỏa thuận giải quyết với chị Hằng sau, không yêu cầu giải quyết trong vụ án này, chị Hằng cũng vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
+ Về công nợ chung: hiện tại anh Công khai không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
+ Về án phí: đề nghị thu án phí ly hôn theo quy định của pháp Luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Văn Công xin ly hôn với chị Triệu Thị Hằng cả hai anh chị cùng có hộ khẩu và địa chỉ tại thôn Lão Nội, xã Phú Lão (nay là xã Phú Nghĩa), huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình.
Về quan hệ hôn nhân: Giữa anh Nguyễn Văn Công và chị Triệu Thị Hằng kết hôn năm 2001, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đồng Tâm, huyện Lạc thuỷ, tỉnh Hoà Bình.
Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh Công và chị Hằng là hoàn toàn tự nguyện, tiến bộ và hợp pháp. Trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách hai vợ chồng không hợp nhau; hoàn cảnh công việc mỗi người một nơi, ít quan tâm đến nhau. Từ khoảng năm 2017, anh chị đã sống ly thân cho đến nay. Anh Công có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh Công được ly hôn với chị Hằng. Hội đồng xét xử xét thấy cuộc sống chung vợ chồng giữa anh Công và chị Hằng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được ; anh Công có nguyện vọng xin được ly hôn để ổn định cuộc sống là có căn cứ pháp luật nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Công.
Đối với chị Hằng, Toà đã triệu tập hợp lệ nhưng chị Hằng vắng mặt; tại phiên tòa anh Công trình bày anh Công đã nói với chị Hằng về việc anh Công có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lạc Thủy giải quyết cho anh được ly hôn thì chị chị Hằng trả lời: anh cứ giải quyết, chị đang đi làm không về để giải quyết được. Ngoài ra, qua xác minh từ bố mẹ đẻ của anh Công và chính quyền địa phương nơi anh Công, chị Hằng cư trú cũng cho biết chị Hằng đi làm ăn xa, vẫn thi thoảng về thăm gia đình và con nhưng chị chỉ về một lúc rồi lại đi. Hiện tại hai người đã sống ly thân nhiều năm; HĐXX xét thấy tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên xử cho anh Công được ly hôn với chị Hằng theo Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: anh Công và chị Hằng có hai con chung là Nguyễn Văn Nam, sinh ngày 18/6/2001 và Nguyễn Phương Thảo, sinh ngày 04/10/2010. Hiện nay hai con đang do anh Công nuôi dưỡng. Khi ly hôn, anh Công đề nghị đối với con trai lớn Nguyễn Văn Nam hiện nay đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án can thiệp; đối với con gái thứ hai tên Nguyễn Phương Thảo từ nhỏ con ở với anh Công, do anh Công chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Công có nguyện vọng tiếp tục được nuôi dưỡng con và chưa yêu cầu chị Hằng cấp dưỡng nuôi con. Bản thân con gái anh Công là Nguyễn Phương Thảo cũng có nguyện vọng ở với bố đẻ là anh Công. Do vậy, nên giao con chung chưa thành niên Nguyễn Phương Thảo cho anh Công trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành hoặc có thay đổi khác là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: anh Công không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập.
Về tài sản chung: Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của anh Công và không đề cập giải quyết về tài sản chung trong vụ việc này.
Về công nợ chung: anh Công khai vợ chồng không vay nợ có nợ cá nhân hay tổ chức nào nên Hội đồng xét xử cũng không đề cập.
Về án phí: anh Nguyễn Văn Công phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về áp dụng Điều luật: Áp dụng Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35;
Khoản 5 Điều 177; Điều 179 Bộ luật TTDS; căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 229 Bộ luật TTDS; Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;
2. Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận đơn yêu cầu của anh Nguyễn Văn Công; xử cho anh Nguyễn Văn Công được ly hôn với chị Triệu Thị Hằng.
3. Về con chung: Giao con chung chưa thành niên của anh Công, chị Hằng tên là Nguyễn Phương Thảo, sinh ngày 04/10/2010 cho bố đẻ là anh Nguyễn Văn Công trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con trưởng thành hoặc có thay đổi khác. Chị Hằng được quyền đi lại thăm nom con chung theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Công chưa yêu cầu.
4. Về án phí: Anh Nguyễn Văn Công phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm và được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003152 ngày 18/6/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để xét xử theo trình tự phúc thẩm; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết.
HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hòa Bình; - VKSND huyện Lạc Thủy; - VKSND tỉnh Hòa Bình; - Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Thủy; - Các đương sự; - UBND xã Phú Nghĩa; - Lưu HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đinh Lan Hương |