- Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T.
- Căn cứ chính? Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC Quy đị…; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 12/2026/QĐ-TA QUYẾT ĐỊNHÁp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai | An Giang, ngày 18 tháng 3 năm 2026 |
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, TỈNH AN GIANG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Phan Thị Q
2. Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Ngọc Mùi
Ngày 18 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 – An Giang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 101/2026/QĐ-TA ngày 11/3/2026 đối với:
Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh ngày 23/10/1994; Giới tính: Nam.
Số CCCD: 091094010699; cấp ngày 06/5/2023; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Trình độ học vấn: 07/12.
Nơi ĐKTT và chỗ ở: Tổ A, khu phố N, phường R, tỉnh An Giang.
Nghề nghiệp: Ngư phủ
Tiền án và tiền sự: không có
Con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1966 và bà Lê Thị Hồng C, sinh năm 1968. Vợ tên Phan Thị Huỳnh C1, sinh năm 1995 (đã ly hôn)
Nguyễn Văn T có mặt tại phiên họp. Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Phan Duy L – Công an phường R (Theo văn bản uỷ quyền số 04 ngày 18/3/2026 của Trưởng Công an phường R, tỉnh An Giang).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-An Giang: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung – Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Vào ngày 19/9/2025, anh Nguyễn Văn T có mua ma túy đá với số tiền là/ 100.000 đồng từ một người đàn ông lạ mặt ở hẻm không nhớ số thuộc đường M, phường R, tỉnh An Giang, sau khi mua xong thì T đem về nhà riêng tại Tổ A, khu phố N, phường R, tỉnh An Giang để cất giấu, đến khoảng 19 giờ cùng ngày thì T lấy số ma túy trên ra để sử dụng, T sử dụng một mình không sử dụng cùng ai khác. Đến ngày 20/9/2025 Công an phường R kết hợp với Trạm ý tế Vĩnh Quang tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể T với kết quả dương tính với chất ma túy Methamphetamine và T bị Công an phường R lập biên bản vi phạm hành chính về an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng, chống tệ nạn xã hội, phòng cháy, chữa cháy, cứu hộ, cứu nạn, phòng chống bạo lực gia đình. Đến ngày 26/9/2025 bị Công an phường R ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 120/QĐ-XPHC, đồng thời đề nghị UBND phường R áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy và UBND phường R đã ra quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy số 121/QĐ-UBND ngày 26/9/2025. Đến ngày 02/2/2026 thì T có hành vi tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy.
Nguyễn Văn T có hành vi nghiện ma túy không đăng ký, không thực h/iện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện tự nguyện được quy định tại khoản 1, Điều 32 Luật số 73/2021/QH14-Luật phòng chống ma túy (hiệu lực 01/01/2022) và người nghiện ma túy không đăng ký cai nghiện tự nguyện được quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 30 Nghị định 116/2021/NĐ-CP của chính phủ ngày 21/12/2021. Do đó, Công an phường R đề nghị dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với T vào ngày 04/02/2026.
Nguyễn Văn T là đối tượng nghiện ma túy đã trên 18 tuổi, theo phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma tuý của Trung tâm y tế R ngày 04/02/2026 xác định Nguyễn Văn T nghiện ma tuý, chất ma túy sử dụng là chất Methamphetamine. Nguyễn Văn T biết rõ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn tiếp tục thực hiện, thể hiện sự xem thường pháp luật. Do đó, Công an phường R đã lập biên bản vi phạm số 21/BB-VPHC ngày 04/2/2026 về cai nghiện ma tuý tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma tuý và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.
Tại phiên họp, người bị đề nghị là Nguyễn Văn T đã thừa nhận hành vi có sử dụng trái phép chất ma túy và đồng ý đi cai nghiện theo đề nghị của Công an phường R vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng xin giảm thời hạn là 12 tháng.
Đại diện Công an phường R, tỉnh An Giang: Tại phiên họp vẫn giữ nguyên ý kiến đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T, thời gian áp dụng là 24 tháng. Tuy nhiên, tại phiên họp Nguyễn Văn T có thái độ ăn năn, hối cải về việc sử dụng trái phép chất ma túy, chưa có tiền án, tiền sự, mong muốn xin giảm nhẹ thời gian đi cai nghiện là 12 tháng, đại diện Công an phường nhận thấy T bị đề nghị đưa đi cai nghiện là do tái nghiện, do đó đồng ý giảm thời gian áp dụng là 18 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – An Giang có ý kiến: Từ khi thụ lý vụ việc đến khi mở phiên họp, Tòa án đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 8, Điều 9, Điều 10, khoản 1 Điều 12, khoản 4 Điều 13, Điều 17, Điều 18, Điều 19, Điều 20, Điều 21 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 sửa đổi, bổ sung năm 2025 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đúng quy định tại Điều 13 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH13 sửa đổi, bổ sung năm 2025; khoản 56 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính và khoản 1 Điều 41 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – An Giang đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T theo đề nghị của Công an phường R, thời gian áp dụng là 18 tháng.
XÉT THẤY:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; sau khi nghe ý kiến của đại diện Công an phường R và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – An Giang, Tòa án nhân dân khu vực 1 – An Giang xét thấy: Nguyễn Văn T, sinh ngày 23/10/1994 là đối tượng nghiện ma túy trên 18 tuổi và có nơi cư trú rõ ràng. T có hành vi nghiện ma túy không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện tự nguyện được quy định tại khoản 1, Điều 32 Luật số 73/2021/QH14-Luật phòng chống ma túy. Do đó, cần thiết áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Nguyễn Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian nhằm giúp người bị đề nghị có thời gian cai nghiện, lao động, học tập để trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.
- Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Hồ sơ được thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại khoản 56 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính ngày 13/11/2020 và khoản 1 Điều 41 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy nên hồ sơ đề nghị là hợp pháp.
- Xét về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm: Nguyễn Văn T là người nghiện ma túy từ năm 2025, T nhận biết được hậu quả của việc sử dụng ma tuý nhưng vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy nên cần phải cai nghiện bắt buộc là đúng quy định của pháp luật. Hành vi của Nguyễn Văn T thể hiện sự xem thường pháp luật, vi phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Ngoài ra, việc sử dụng trái phép các chất ma túy cũng là tiền đề tạo ra nhiều tệ nạn xã hội, đặc biệt là dễ dẫn đến nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác, làm mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến bản thân Nguyễn Văn T nói riêng và cộng đồng xã hội nói chung. Vì vậy, việc Công an phường R lập hồ sơ đưa Nguyễn Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết và đúng người, đúng đối tượng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma tuý năm 2021; các khoản 49, 56, 57, 59 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính ngày 13/11/2020; các Điều 9, 10 và khoản 2 Điều 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2025; Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 Quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma tuý từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị đối với quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Người bị đề nghị có mặt tại phiên họp có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an phường R có trách nhiệm thi hành quyết định này./.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 1 – An Giang; - Người bị áp dụng; - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang; - UBND phường Rạch Giá; - Công an phường Rạch Giá; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Phan Thị Quyên |