vanban.org

Bản án 12/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh H và đồng phạm - phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 157 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 -ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2026/HS-ST
Ngày: 06 - 02 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Tại điểm cầu trung tâm:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Năng Quân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lưu Văn Toan

2. Ông Võ Ánh Sửu

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Đắk Lắk tham gia phiên toà: Ông Trịnh Văn Hai - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Đắk Lắk xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2026/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2026/QĐXXST-HS, ngày 23 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:

Tại điểm cầu thành phần:

1. Nguyễn Thanh H, sinh năm 1995 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi thường trú: Thôn 8, xã Ea D, tỉnh Đắk Lắk; nơi ở hiện tại: Thôn 6, xã Ea D, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Lao động tư do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh L; con bà Nguyễn Thị V; có vợ bà Trần Thị Quỳnh Nh; có 01 người con sinh năm 2019.

Tiền sự: Không;

Tiền án: Có 03 tiền án, cụ thể: Tại Bản án số: 53/2020/HS-ST ngày 24/9/2020 Tòa án nhân dân huyện Krông Năng (nay là TAND khu vực 10) tỉnh Đắk Lắk, xử phạt 01 năm 06 tháng tù, về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/11/2021; Tại Bản án số: 32/2023/HS-ST ngày 27/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo (nay là TAND khu vực 9) tỉnh Đắk Lắk xử phạt 09 tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức”; Tại Bản án số: 38/2023/HS-ST ngày 31/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo (nay là TAND khu vực 9) tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp chung hình phạt của 02 Bản án là 01 năm 09 tháng tù; ngày 04/10/2024 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích.

Nhân thân: Tại Bản án số 67/2016/HS-ST ngày 23/8/2016 của Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo (nay là TAND khu vực 9) tỉnh Đắk Lắk, xử phạt 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”; Tại Bản án số: 41/2017/HS-ST ngày 19/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo (nay là TAND khu vực 9), tỉnh Đắk Lắk, xử phạt 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 13/11/2025 đến ngày 21/11/2025 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Ea H’Leo, Trại giam số 1, Công an tỉnh Đắk Lắk. Có mặt

2. Phạm Trường V, sinh năm 2005 tại tỉnh Khánh Hòa; nơi thường trú: Thôn Lập Định 2, xã Cam L, tỉnh Khánh Hòa; nơi ở hiện tại: Thôn 6, xã Ea D, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Lao động tư do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Ch và con bà Nguyễn Thị Th.

Tiền án và tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 13/11/2025 đến ngày 21/11/2025 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Ea H’Leo, Trại giam số 1, Công an tỉnh Đắk Lắk. Có mặt

3. Y Bi M, sinh năm 1993 tại tỉnh Đắk Lắk; trú tại: Thôn Ea K, xã Krông B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Lao động tư do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Ê Đê; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Y Th và con bà H N; chung sống như vợ chồng với bà H N (không đăng ký kết hôn); có 02 người con, con lớn sinh năm 2018 và con nhỏ sinh năm 2021.

Tiền sự: Không;

Tiền án: Có 04 tiền án, cụ thể: Tại Bản án số: 171/2017/HS-PT ngày 14/6/2017 Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/11/2017; Tại Bản án số 35/2018/HS-ST ngày 16/11/2018 Tòa án nhân dân huyện Krông Búk (nay là TAND khu vực 8) tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/02/2020; Tại Bản án số: 21/2021/HS-ST ngày 13/7/2021 Tòa án nhân dân huyện Krông Búk (nay là TAND khu vực 8) tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 19/5/2022; Tại Bản án số 38/2022/HS-ST ngày 30/11/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Krông Búk (nay là TAND khu vực 8) tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/3/2025.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 13/11/2025 đến ngày 21/11/2025 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Ea H’Leo, Trại giam số 1, Công an tỉnh Đắk Lắk. Có mặt

Tại điểm cầu trung tâm:

- Người bị hại: Chị Ngân Thị D (tên gọi khác: Ng 98), sinh năm 1998; trú tại: Thôn 10, xã Ea R, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Phạm Văn M, sinh năm 1964; trú tại: Thôn 11, xã Ea D, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt

2. Ông Lê Văn H, sinh năm 1973; trú tại: Thôn 6, xã Ea D, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt

3. Ông Đỗ Ngọc Tr, sinh năm 1995; trú tại: Thôn 4, xã Ea D, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Hùng V, sinh năm 2000; trú tại: Thôn Tri C2, xã Ea D, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt

2. Chị Kpă H, sinh năm 2005; trú tại: Buôn Chờ T, xã Ia H, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

3. Chị H Tr, sinh năm 2006; trú tại: 01 Trần Ph, xã Cư M, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt

4. Anh Lê Cao T, sinh năm 1984; trú tại: Thôn 10, xã Ea D, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 6/2025, Ngân Thị D, sinh năm 2000, trú tại thôn 10, xã Ea R, tỉnh Đắk Lắk được bạn rủ đến xã Ea Drăng, tỉnh Đắk Lắk làm nhân viên phục vụ các quán nhậu, quán karaoke cho Nguyễn Thanh H. Quá trình làm việc, H thuê phòng trọ cho D và các nhân viên ở, thỏa thuận công việc của D là làm nhân viên rót bia, bấm bài cho khách hát ở các quán Karaoke, quán nhậu. Quá trình làm việc, H quy định nhân viên đi đâu phải được sự cho phép của H, không được tự ý đi tiếp khách hoặc đi chơi khi chưa có sự đồng ý của H. Vào tối ngày 15/10/2025 theo yêu cầu của H thì Phạm Trường V chở D và Kpă H đến quán karaoke Nam Lê ở xã Ea Drăng, tỉnh Đắk Lắk để phục vụ khách, đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 16/10/2025 hết ca làm nên V nhờ Y B cùng đi xuống quán karaoke Nam Lê đón D và Kpă H về. Khi đến quán Karaoke Nam Lê thì V chở Kpă H về nhà trọ của Kpă H, còn D nhờ Y Bi M chở đến nhà nghỉ Khánh Vy ở xã Ea Drăng gặp người yêu tên H (không xác định được nhân thân). Sau đó, Y Bi M về lại nhà trọ của H ở số 50 đường Nguyễn Văn Trỗi thuộc thôn 6, xã Ea Drăng, tỉnh Đắk Lắk. Khoảng 01 giờ sáng cùng ngày, H gọi điện thoại cho D nhưng không được, H gọi cho V và Y Bi M hỏi đã chở D về chưa sao H liên lạc không được, biết D không về nhà trọ mà tự ý đi chơi với người khác ở nhà nghỉ Khánh Vy nên H nói V xuống nhà nghỉ Mai Phương chở H đến nhà nghỉ Khánh Vy. Khi đến nhà nghỉ Khánh Vy, H gọi điện thoại cho tài xế xe taxi là Nguyễn Hùng V nói V chạy xe ô tô xuống nhà nghỉ Khánh Vy chở D về cho H, một lúc sau V đi ô tô đến đợi ở khu vực trước nhà nghỉ Khánh Vy. Tại đây, V nhắn tin nói D đi làm thì D đi ra khỏi nhà nghỉ Khánh Vy, V dùng bình xịt hơi cay mang theo dí vào cổ và mặt D đe dọa, ép D lên xe ô tô của V. Lúc này, H tát 01 cái vào mặt D rồi đưa D lên xe ô tô biển số 47A-589.55, do V điều khiển đang dừng ở đường, khi lên xe H nói V chở D về nhà trọ của H tại số 50 đường Nguyễn Văn Trỗi thuộc thôn 6, xã Ea Drăng, tỉnh Đắk Lắk còn V đi xe máy theo sau. Khi về đến nhà trọ H chửi, tát vào mặt D và dùng dùi cui điện dí về phía người D, chửi bới D vì tự ý đi ra ngoài với bạn trai. Sau đó, H nói V, Y Bi M vào trong phòng ngủ lấy sợi xích mang ra xích D lại, V và Y Bi M lấy sợi xích và 02 ổ khóa, khóa chân của D lại rồi xích lên song cửa sổ tại phòng khách, H nói V và Y B ở lại canh chừng D còn H nói V chở đi ra ngoài, khoảng 02 tiếng sau thì H gọi điện thoại cho V nói V tháo xích cho D nên V và Y Bi M mở xích cho D để D lên ghế sôpha gần đó nằm ngủ. Sau đó, H đi về và tiếp tục chửi, mắng D một lúc rồi cho D vào phòng ngủ, trưa cùng ngày Vũ chở D về lại phòng trọ của D để thay đồ rồi tiếp tục chở D đến nhà trọ của H không cho đi đâu. Đến khoảng 17 giờ ngày 17/10/2025, H, V và Y Bi M không quản lý, giám sát D nữa mà cho D về phòng trọ của D. Sau đó, Ngân Thị D đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk trình báo toàn bộ nội dung sự việc.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thanh H, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk, phát hiện và thu giữ: 01 dây xích bằng kim loại, dài 186 cm; 01 ổ khóa bằng kim loại, màu vàng, trên thân ổ khóa còng dòng chữ “VIET TIEP”; 01 ổ khóa bằng kim loại, màu đen, trên thân ổ khóa có dòng chữ “VIỆT TIỆP”; 02 Bình kim loại, hình trụ màu đen, trên thân bình có dãn nhãn màu đen - vàng, nhãn có chữ “TAKE DOWN” và nhiều số, chữ nước ngoài; 01 gậy nhựa màu đen, dài 54 cm, trên thân gậy có in dòng chữ nổi “Shen Suo Fang Wei Qi TW-09 MADE IN CHINA”, dọc thân gậy có gắn mảnh kim loại hai bên.

Quá trình điều tra bị cáo H giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 12, màu đen, màn hình cường lực bị nứt, số IMEI 1: 864122062508384, số IMEI 2: 864122062508392, bên trong chứa 01 sim điện thoại: 0368697947 đã qua sử dụng. Bị cáo V giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 PRO MAX, màu xanh đen, số Sê-ri: G6TF2GKK0D46, Số máy: MG953LL/A; số IMEI: 357104914654156, bên trong chứa 01 sim số: 0827732179 đã qua sử dụng.

Tại biên bản xác định hiện trường ngày 13/11/2025 do Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk lập thể hiện: Hiện trường nơi xảy ra việc H, V và Y Bi M xích, giữ Ngân Thị D là phòng khách căn nhà số 50 đường Nguyễn Văn Trỗi thuộc thôn 6, xã Ea Drăng, tỉnh Đắk Lắk.

Tại biên bản xác định hiện trường ngày 29/11/2025 do Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk lập thể hiện: Vị trí hiện trường nơi xảy ra việc Nguyễn Thanh H, Phạm Trường V bắt Ngân Thị D là sân bê tông trước nhà nghỉ Khánh Vy. Tại nơi H và V đánh D đến vị trí xe taxi của Nguyễn Hùng V là bên đường kia đường Nơ Trang Lơng khoảng cách 11,5m.

Tại Bản kết luận giám định số: 2259/KL-KTHS ngày 31/12/2025 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: 02 bình xịt nêu trên gửi giám định thuộc chủng loại bình xịt hơi cay của Phụ lục 4, “Danh mục công cụ hỗ trợ” ban hành kèm theo Thông tư số: 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ Công an; 01 Gậy nhựa nêu trên gửi giám định nguyên là dùi cui điện, hiện tại không còn chức năng phóng điện nên không thuộc các danh mục vũ khí, công cụ hỗ trợ, ban hành kèm theo Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ Công an.

Quá trình bị bắt, giữ và bị đánh Ngân Thị D chỉ bị xây sát nhẹ, không đi điều trị ở cơ sở y tế, nên không có căn cứ để giám định tỷ lệ thương tích.

Qúa trình xác minh về nhân thân đã xác định Phạm Trường V đang bị Cơ quan CSĐT công an tỉnh Khánh Hòa khởi tố về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo khoản 2 Điều 142 Bộ luật Hình sự theo Quyết định khởi tố bị can số 317/QĐ-CSHS ngày 28/11/2024.

Tại bản Cáo trạng số: 20/CT-VKS-HS, ngày 16 tháng 01 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Đắk Lắk truy tố bị cáo Nguyễn Thanh H và Phạm Trường V về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”, theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Y Bi M về tội “Giữ người trái pháp luật”, theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, vị trí, vài trò và xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H và Phạm Trường V phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”, theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Y Bi M phạm tội “Giữ người trái pháp luật”, theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 157, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H từ 21 tháng tù đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 13 tháng 11 tháng 2025.

Áp dụng khoản 1 Điều 157, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Y Bi M từ 18 tháng tù đến 20 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 13 tháng 11 tháng 2025.

Áp dụng khoản 1 Điều 157, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Trường V từ 18 tháng tù đến 20 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 13 tháng 11 tháng 2025.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghi Hội đồng xét xử:

Tịch thu tiêu hủy 02 ổ khóa kim loại, 01 dây xích bằng kim loại, 01 Gậy nhựa màu đen, 02 bình kim loại (bình xịt hơi cay), sim số 0368697947 và sim số 0827732179 là công cụ, phương tiện mà các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Redmi 12 và 01 điện thoại di động IPhone 12 Promax là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Ngân Thị D không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì, nên không xem xét.

Đối với Nguyễn Hùng V là lái xe taxi do Nguyễn Thanh H thuê đến và không tham gia vào việc bắt, giữ chị Ngân Thị D, nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk không xử lý với vai trò đồng phạm là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với ông Phạm Văn M là người cho Nguyễn Thanh H thuê căn nhà số 50 đường Nguyễn Văn Trỗi thuộc thôn 6, xã Ea Drăng, tỉnh Đắk Lắk, khi H sử dụng căn nhà vào mục đích phạm tội thì ông M không biết, nên không có căn cứ để xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với hành vi tàng trữ, sử dụng công cụ hỗ trợ là bình xịt hơi cay của Nguyễn Thanh H do hành vi không cấu thành tội phạm, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk chuyển hồ sơ có liên quan cho Công an xã Ea Drăng, tỉnh Đắk Lắk xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có kiến tranh luận gì.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình và cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng:

. Về quyết định tố tụng và hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Đắk Lắk, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, tại giai đoạn điều tra đã có lời khai, nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292 và Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

. Về nội dung và tội danh: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: Do ý thức coi thường pháp luật, vào khoảng 01 giờ ngày 16/10/2025, tại thôn 8, xã Ea Drăng, tỉnh Đắk Lắk, Nguyễn Thanh H, Phạm Trường V đã có hành vi dùng vũ lực bắt Ngân Thị D đưa lên xe ô tô taxi biển số 47A-589.55 của Nguyễn Hùng V. Sau đó, Nguyễn Thanh H và Phạm Trường V đưa Ngân Thị D về phòng trọ của Nguyễn Thanh H ở số 50 đường Nguyễn Văn Trỗi thuộc thôn 6, xã Ea Drăng, tỉnh Đắk Lắk, tại đây Nguyễn Thanh H nói Phạm Trường V và Y Bi M dùng xích, ổ khóa xích chân của Ngân Thị D lại rồi móc sợi xích lên khung cửa sổ phòng khách khoảng 02 giờ và tiếp tục quản lý D tại nhà trọ của Nguyễn Thanh H đến 17 giờ ngày 17/10/2025 thì cho Ngân Thị D về.

Tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự quy định về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” như sau:

“1. Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 377 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh H và Phạm Trường V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và hành vi của bị cáo Y Bi M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giữ người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Đắk Lắk truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình không có ý kiến tranh luận gì về tội danh chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

. Về tính chất và mức độ phạm tội: Hội đồng xét xử xét thấy, đây là vụ án có tính chất đồng phạm có 02 bị cáo bị truy tố và xét xử về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” và 01 bị cáo bị truy tố và xét xử về tội “Giữ người trái pháp luật”, khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo là lao động tự do không có chức vụ, quyền hạn trong việc bắt, giữ người nhưng các bị cáo đã thực hiện hành vi bắt, giữ người trái pháp luật đối với chị Ngân Thị D. Do đó, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, xâm phạm đến quyền tự do thân thể, tự do đi lại của công dân được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo để giáo dục và phòng ngừa chung.

. Về vị trí, vai trò và hành vi phạm tội: Hội đồng xét xử xét thấy, đây là vụ án có tính chất đồng phạm, nhưng đồng phạm giản đơn các bị cáo phạm tội với vai trò thực hành, không có sự cấu kết, bàn bạc, phân công nhiệm vụ cụ thể ở từng giai đoạn phạm tội, cụ thể như sau:

. Đối với Nguyễn Thanh H: Là bị cáo giữ vai trò chính và then chốt trong vụ án, thực hiện hành vi phạm tội một cách tích cực và quyết liệt hơn so với 02 bị cáo còn lại, bị cáo người trực tiếp quản lý, điều hành Ngân Thị D, trong sinh hoạt hàng ngày Ngân Thị D muốn đi chơi hay tiếp xúc với người khác phải được sự đồng ý của bị cáo, trong một lần đi chơi với người khác tại nhà nghỉ Khánh Vy, Ngân Thị D không thông báo cho bị cáo biết, nên bị cáo đã có hành vi dùng vũ lực, đồng thời chỉ đạo Phạm Trường V đến nhà nghỉ Khánh Vy đưa Ngân Thị D về phòng trọ của bị cáo để đánh đập, chửi bới và đe dọa. Mặt khác, bị cáo có nhân thân xấu, có nhiều tiền án chưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý. Vì vậy, phải có một mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

. Đối với Phạm Trường V: Tham gia phạm tội một cách tích cực, bị cáo cùng với H đến nhà nghỉ Khánh Vy nơi Ngân Thị D đang ở, tại đây bị cáo đã có hành vi dùng bình xịt hơi cay dí vào cổ và mặt Ngân Thị D đe dọa và ép Ngân Thị D lên xe taxi của Nguyễn Hùng V để đi về nhà trọ của H tại số 50 đường Nguyễn Văn Trỗi, khi về nhà trọ bị cáo tiếp tục dùng vũ lực đối với Ngân Thị D, đồng thời cùng với Y Bi M canh chừng Ngân Thị D theo yêu cầu của H. Mặt khác, ngoài lần phạm tội bị xét xử hôm nay, bị cáo đang bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Khánh Hòa khởi tố về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” được quy định tại khoản 2 Điều 142 Bộ luật Hình sự, theo Quyết định khởi tố bị can số: 317/QĐ-CSHS ngày 28/11/2024, hiện đang trong quá trình điều tra. Vì vậy, phải có một mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

. Đối với Y Bi M: Không tham gia trực tiếp cùng với H và V về việc bắt Ngân Thị D trái pháp luật tại nhà nghỉ Khánh Vy. Tuy nhiên, bị cáo có hành vi giữ Ngân Thị D trái pháp luật tại phòng trọ của H tại số 50 đường Nguyễn Văn Trỗi, cụ thể theo yêu cầu và chỉ đạo của H bị cáo cùng với V đã lấy sợi xích, khóa chân rồi xích Ngân Thị D lên song cửa sổ tại phòng khách, đồng thời canh chừng và không cho Ngân Thị D ra ngoài. Mặt khác, trước đó bị cáo đã bị kết án về nhiều tội danh khác nhau, chưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý. Vì vậy, phải có một mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

. Về nhân thân: Nguyễn Thanh H có nhân thân xấu, cụ thể: Tại Bản án số 67/2016/HS-ST ngày 23/8/2016 của Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo (nay là TAND khu vực 9) tỉnh Đắk Lắk, xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Tại Bản án số: 41/2017/HS-ST ngày 19/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo (nay là TAND khu vực 9), tỉnh Đắk Lắk, xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã được xóa án tích.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

. Đối với Nguyễn Thanh H có 03 tiền án, đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm”, chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

. Đối với Y Bi M có 04 tiền án, đã bị áp dụng tình tiết định khung hình phạt “Tái phạm nguy hiểm”, chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Nguyễn Thanh H, Phạm Trường V và Y Bi M thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo để thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật.

Đối với Phạm Trường V đang bị Cơ quan CSĐT công an tỉnh Khánh Hòa khởi tố về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo khoản 2 Điều 142 Bộ luật Hình sự, theo Quyết định khởi tố bị can số: 317/QĐ-CSHS ngày 28/11/2024 đang trong quá trình điều tra. Căn cứ khoản 9 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 và Điều 52 của Bộ luật hình sự. Do đó, Phạm Trường V không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

. Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ, vị trí và vai trò hành vi phạm tội của từng bị cáo, đồng thời xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở trên. Hội đồng xét xử xét thấy, cần thiết phải cách ly Nguyễn Thanh H, Phạm Trường V và Y Bi M ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục các bị cáo trở thành công dân sống có ích cho xã hội và biết tôn trọng pháp luật.

. Về kiến nghị: Vụ án là hồi chuông cảnh tỉnh đối với các hành vi lợi dụng các hoạt động kinh doanh dịch vụ để bóc lột, kiểm soát hoặc bắt, giữ người lao động trái pháp luật. Do đó, kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các cơ sở kinh doanh dịch vụ nhạy cảm như karaoke, massage, khách sạn … nhằm ngăn ngừa, phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm các hành vi bóc lột, bắt, giữ người trái pháp luật dưới danh nghĩa quản lý nhân viên, từ đó để có biện pháp phòng ngừa chung.

. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 02 ổ khóa kim loại, 01 dây xích bằng kim loại, 01 Gậy nhựa màu đen, 02 bình kim loại (bình xịt hơi cay), sim số 0368697947 và sim số 0827732179 là công cụ, phương tiện mà các bị cáo dùng vào việc phạm tội.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Redmi 12 và 01 điện thoại di động IPhone 12 Promax là công cụ, phương tiện mà các bị cáo dùng vào việc phạm tội.

. Về trách nhiệm dân sự: Chị Ngân Thị D không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì, nên không xem xét.

Đối với Phạm Văn M là người cho Nguyễn Thanh H thuê căn nhà số 50 đường Nguyễn Văn Trỗi thuộc thôn 6, xã Ea Drăng, tỉnh Đắk Lắk, khi H sử dụng căn nhà vào mục đích phạm tội thì ông M không biết, nên không có căn cứ để xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với hành vi tàng trữ, sử dụng công cụ hỗ trợ là bình xịt hơi cay của Nguyễn Thanh H do hành vi không cấu thành tội phạm, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk chuyển hồ sơ có liên quan cho Công an xã Ea Drăng, tỉnh Đắk Lắk xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với Nguyễn Hùng V là lái xe taxi do H thuê đến và không tham gia vào việc bắt, giữ Ngân Thị D. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk không xử lý với vai trò đồng phạm là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về tội danh, điều luật, mức hình phạt và biện pháp tư pháp mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với các bị cáo là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Thanh H Phạm Trường V và Y Bi M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

1.1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh H và Phạm Trường V phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

1.2. Tuyên bố bị cáo Y Bi M phạm tội “Giữ người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

2.1. Áp dụng khoản 1 Điều 157, Điều 38, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Thanh H

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 02 (hai) năm tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 13 tháng 11 tháng 2025.

2.2. Áp dụng khoản 1 Điều 157, Điều 38, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với Phạm Trường V.

Xử phạt bị cáo Phạm Trường V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 13 tháng 11 tháng 2025.

2.3. Áp dụng khoản 1 Điều 157, Điều 38, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Y Bi M.

Xử phạt bị cáo Y Bi M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 13 tháng 11 tháng 2025.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 02 ổ khóa kim loại; 01 dây xích bằng kim loại; 01 Gậy nhựa mùa đen, 02 Bình kim loại, hình trụ màu đen; sim số 0368697947 và sim số 0827732179 là công cụ, phương tiện mà các bị cáo dùng vào việc phạm tội;

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Redmi 12 và 01 điện thoại di động IPhone 12 Promax là công cụ, phương tiện mà các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Đặc điểm vật chứng được mô tả tại biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/01/2026 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk với Phòng thi hành án dân sự khu vực 9 - Đắk Lắk.

4. Về trách nhiệm dân sự: Chị Ngân Thị D không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì, nên không xem xét.

Kiến nghị các cơ quan chức năng có thẩm quyền cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các cơ sở kinh doanh dịch vụ nhạy cảm như karaoke, massage, khách sạn …, nhằm ngăn ngừa, phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm các hành vi bóc lột, bắt, giữ người trái pháp luật dưới danh nghĩa quản lý nhân viên. Từ đó, để có biện pháp phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thanh H, Phạm Trường V và Y Bi M mỗi bị cáo phải chịu số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ