vanban.org

Bản án 12/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Năm.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Nđược ly hôn với anh Nguyễn Duy H. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Duy Phát, sinh ngày 08/12/2012 cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục khi cháu Phát chưa thành niên, hoặc đã thành niên mà mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Năm.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2026/HNGĐ-ST
Ngày 27/02/2026
“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con
chung”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Đặng Anh Việt.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Công Chự và ông Nguyễn Ngọc Bình.

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Minh Chinh - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 8 – Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Trí - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 02 N2026, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Gia Lai tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 13/2026/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 01 N2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2026/QĐST-HNGĐ ngày 06/02/2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Năm, sinh N1993; địa chỉ: Thôn Bao Lâm, xã Thọ Bình, tỉnh Thanh Hóa.

Vắng mặt tại phiên tòa. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Duy H, sinh N1993; địa chỉ: Làng Khóp, xã Ia Krêl, tỉnh Gia Lai.

Vắng mặt tại phiên tòa. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ntrình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Nvà anh Nguyễn Duy H có trải qua thời gian tìm hiểu, sau đó tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Uar, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai (nay là xã Uar, tỉnh Gia Lai) vào ngày 18/01/2013.

Sau khi kết hôn, chị Nvà anh H chung sống hạnh phúc được khoảng 03 Nthì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, cuộc sống vợ chồng không hòa thuận, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ N2016 đến nay, vợ chồng không còn tình cảm, không quan tâm tới nhau. Nay xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng không còn khả năng hòa giải, tình cảm vợ chồng không còn nên chị Nđề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.

Về con chung: Chị Nvà anh H có 01 con chung tên: Nguyễn Duy Phát, sinh ngày 08/12/2012.

Chị Nđề nghị Tòa án giao cháu Phát cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Phát thành niên và tự lập được. Chị Ntự nguyện cấp dưỡng nuôi con mức 1.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Phát thành niên và tự lập được.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Nkhông yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị đơn, anh Nguyễn Duy H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Duy H và chị Nguyễn Thị Ncó trải qua thời gian tìm hiểu, sau đó tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Uar, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai (nay là xã Uar, tỉnh Gia Lai) vào ngày 18/01/2013.

Sau khi kết hôn, anh H và chị Nchung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, cuộc sống vợ chồng không hòa thuận, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Chị Nbỏ về quê sống từ N2016, anh H và chị Nsống ly thân từ đó đến nay, vợ chồng không còn tình cảm, không quan tâm tới nhau. Nay xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng không còn khả năng hòa giải, tình cảm vợ chồng không còn nên chị Nxin ly hôn, anh H nhất trí.

Về con chung: Anh H và chị Ncó 01 con chung tên: Nguyễn Duy Phát, sinh ngày 08/12/2012. Cháu Phát sống cùng với anh H từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay.

Anh H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phát cho đến khi cháu Phát thành niên và tự lập được. Anh H yêu cầu chị Ncấp dưỡng nuôi con mức 1.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Phát thành niên và tự lập được.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Gia Lai:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Nvà anh Nguyễn Duy H là hợp pháp. Quá trình chung sống với nhau được một thời gian thì giữa chị Nvà anh H phát sinh mâu thuẫn. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm, nên chị Nđề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H và anh H cũng nhất trí ly hôn với chị Năm. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Năm.

Về con chung: Anh H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Duy Phát cho đến khi cháu Phát thành niên và tự lập được. Anh H yêu cầu chị Ncấp dưỡng nuôi con mức 1.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Phát thành niên và tự lập được. Chị Ncũng nhất trí giao cháu Phát cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mức 1.000.000đồng/ tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật đến khi cháu Phát thành niên và tự lập được. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giao cháu Nguyễn Duy Phát cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Phát thành niên và có khả năng lao động tự lập được. Buộc chị Ncấp dưỡng nuôi con mức 1.000.000đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Phát thành niên và tự lập được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Chị Nguyễn Thị Nkhởi kiện yêu cầu ly hôn và giải quyết nuôi con chung với anh Nguyễn Duy H có địa chỉ tại: Làng Khóp, xã Ia Krêl, tỉnh Gia Lai. Vì vậy đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Gia Lai theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị Nvà anh Nguyễn Duy H đều có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ Luật tố tụng Dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Nvà anh Nguyễn Duy H trải qua thời gian tìm hiểu, tiến tới hôn nhân và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Uar, tỉnh Gia Lai. Vì vậy, hôn nhân giữa chị Nvà anh H là hợp pháp theo đúng quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Quá trình chung sống với anh H, nhận thấy mâu thuẫn phát sinh trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên chị Nkhởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh H. Anh H cũng thừa nhận mâu thuẫn giữa vợ chồng đã thực sự trầm trọng, vợ chồng không còn yêu thương nhau và nhất trí ly hôn với chị Năm. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở để khẳng định mâu thuẫn giữa chị Nvà anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Năm.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Nvà anh Nguyễn Duy H có 01 con chung tên: Nguyễn Duy Phát, sinh ngày 08/12/2012.

Anh H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Duy Phát. Xét thấy anh H có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, đảm bảo sự phát triển toàn diện của cháu Phát, từ khi chị Nvà anh H sống ly thân đến nay, một mình anh H vẫn chăm sóc tốt cho cháu Phát, chị Ncũng nhất trí giao cháu Phát cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Cháu Phát có nguyện vọng được sống cùng anh H. Do đó, cần giao cháu Phát cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Phát thành niên và tự lập được là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh H yêu cầu chị Ncấp dưỡng nuôi con mức 1.000.000đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Phát thành niên và tự lập được và chị Ncũng nhất trí nên cần chấp nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Nvà anh Nguyễn Duy H đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Nlà nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, chị Nlà người cấp dưỡng nuôi con nên phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ Luật tố tụng Dân sự;

- Các Điều 9, 19, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117, 118 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Năm.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Nđược ly hôn với anh Nguyễn Duy H.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Duy Phát, sinh ngày 08/12/2012 cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục khi cháu Phát chưa thành niên, hoặc đã thành niên mà mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Chị Nguyễn Thị Ncó nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mức 1.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Phát thành niên, hoặc đã thành niên mà mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Kể từ ngày Quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự N2015.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng quyền thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng.

3. Về án phí:

Buộc chị Nguyễn Thị Nphải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch về ly hôn và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch về cấp dưỡng nuôi con để sung quỹ nhà nước, được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà chị Nđã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000381, ngày 12/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai. Chị Ncòn phải tiếp tục nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ Luật tố tụng Dân sự để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ