vanban.org

Bản án 12/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Cẩm Tiên được ly hôn anh Cao Quang Sang.

Về con chung: Giao 02 cháu Cao Đỗ Phú Trọng, sinh ngày 20/5/2021 và Cao Đỗ Anh Tài, sinh ngày 02/01/2024, hiện chị Đỗ Cẩm Tiên đang nuôi dưỡng cho chị Đỗ Cẩm Tiên tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đỗ Cẩm Tiên"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Cẩm Tiên được ly hôn anh Cao Quang Sang.
  • Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 06/7/2026
V/v “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Ân.

Các hội thẩm nhân dân:

- Ông Trịnh Đình Bá.

- Ông Hoàng Văn Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Hoà - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 23/2026/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2026 về việc“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2026/QĐXXST- HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số: 38/2026/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đỗ Cẩm Tiên, sinh năm 2002; có mặt.

Địa chỉ: Thôn Đông Hoà, xã Trường Giang, tỉnh Quảng Ngãi.

- Bị đơn: Anh Cao Quang Sang, sinh năm: 2001; vắng mặt.

Địa chỉ: Xóm Đoàn Kết, thôn Trà Bình, xã Ba Gia, tỉnh Quảng Ngãi.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, biên bản hoà giải và tại phiên toà nguyên đơn chị Đỗ Cẩm Tiên trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Sau thời gian tự nguyện tìm hiểu, chị và anh Cao Quang Sang chung sống với nhau từ năm 2020, sau đó có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tịnh Giang nay là Uỷ ban nhân dân xã Trường Giang, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 04/4/2022. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến cuối tháng 02 năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, không cùng quan điểm sống nên dẫn đến thường xuyên xảy ra cãi vã. Gia đình hai bên đã nhiều lần hoà giải để vợ chồng hàn gắn nhưng không được, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2025 cho đến nay. Chị thấy tình cảm giữa chị và anh Sang không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Sang.

- Về con chung: Có 02 đứa tên là Cao Đỗ Phú Trọng, sinh ngày 20/5/2021 và Cao Đỗ Anh Tài, sinh ngày 02/01/2024. Hiện 02 con chị đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con, yêu cầu anh Sang cấp dưỡng nuôi 02 con, mỗi con 01 tháng 1.000.000 đồng.

Tại phiên toà chị thay đổi: Yêu cầu anh Cao Quang Sang cấp dưỡng nuôi con Cao Đỗ Anh Tài mỗi tháng 2.000.000 đồng, không yêu cầu anh Sang cấp dưỡng nuôi con Cao Đỗ Phú Trọng.

- Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

Bị đơn anh Cao Quang Sang vắng mặt tại phiên toà nhưng tại biên bản hoà giải ngày 27/5/2026 trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Tiên chung sống với nhau từ năm 2020, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tịnh Giang nay là Uỷ ban nhân dân xã Trường Giang, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 04/4/2022. Vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 02 năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân anh cũng thừa nhận mình có lúc ăn chơi, ít quan tâm vợ, con nhưng từ lúc vợ chồng mâu thuẫn, không ở chung từ tháng 02 năm 2025 đến nay anh đã thay đổi, hiện công việc của anh đã ổn định hơn, có điều kiện để phụ vợ lo cho 02 con. Anh mong muốn được vợ cho thêm cơ hội để về chung sống, lo cho các con có đủ cha đủ mẹ nên anh không đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Có 02 đứa tên là Cao Đỗ Phú Trọng, sinh ngày 20/5/2021 và Cao Đỗ Anh Tài, sinh ngày 02/01/2024. Hiện 02 con chị Tiên đang nuôi dưỡng. Vì anh không đồng ý ly hôn nên chưa có ý kiến về việc nuôi con.

- Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Quảng Ngãi tại phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị Đỗ Cẩm Tiên được ly hôn anh Cao Quang Sang.

Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao 02 cháu Cao Đỗ Phú Trọng, sinh ngày 20/5/2021 và Cao Đỗ Anh Tài, sinh ngày 02/01/2024, hiện chị Tiên đang nuôi dưỡng cho chị Tiên tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Sang cấp dưỡng nuôi cháu Cao Đỗ Anh Tài mỗi tháng 2.000.000 đồng.

Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà giải quyết; về nợ chung: Không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đỗ Cẩm Tiên, anh Cao Quang Sang phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền: Chị Đỗ Cẩm Tiên xin ly hôn anh Cao Quang Sang hiện đang cư trú tại thôn Trà Bình, xã Ba Gia, tỉnh Quảng Ngãi nên Tòa án nhân dân khu vực 3 - Quảng Ngãi thụ lý, giải quyết là phù hợp với quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Cao Quang Sang đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Cẩm Tiên và anh Cao Quang Sang đăng ký kết hôn vào ngày 04/4/2022 tại Ủy ban nhân dân xã Tịnh Giang nay là Uỷ ban nhân dân xã Trường Giang, tỉnh Quảng Ngãi là hôn nhân hợp pháp. Sau ngày kết hôn chị Tiên và anh Sang sống hạnh phúc đến tháng 02 năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chị Tiên cho rằng vợ chồng không hợp nhau, không cùng quan điểm sống, anh Sang không lo làm ăn. Anh Sang thừa nhận có lúc ăn chơi, ít quan tâm vợ, con. Anh Sang yêu cầu đoàn tụ nhưng đã không có hướng để vợ chồng đoàn tụ và hiện tại vợ chồng vẫn sống ly thân.

Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn giữa chị Tiên và anh Sang đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, tại phiên tòa chị Tiên vẫn cương quyết xin ly hôn nên Hội đồng xét xử cho chị Tiên được ly hôn với anh Sang là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung:

- Chị Đỗ Cẩm Tiên và anh Cao Quang Sang có 02 đứa con tên là Cao Đỗ Phú Trọng, sinh ngày 20/5/2021 và Cao Đỗ Anh Tài, sinh ngày 02/01/2024, hiện chị Tiên đang nuôi dưỡng 02 cháu. Khi ly hôn chị Tiên yêu cầu được tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng 02 cháu.

Xét thấy: Trong thời gian chị Tiên và anh Sang sống ly thân chị Tiên là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 cháu Cao Đỗ Phú Trọng và Cao Đỗ Anh Tài, hiện các cháu đang có cuộc sống ổn định. Tại phiên tòa chị Tiên vẫn yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 cháu Cao Đỗ Phú Trọng và Cao Đỗ Anh Tài. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho các cháu trong cuộc sống nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Tiên giao 02 cháu Cao Đỗ Phú Trọng và Cao Đỗ Anh Tài cho chị Tiên tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Tại đơn khởi kiện và biên bản hoà giải chị Tiên yêu cầu anh Sang cấp dưỡng nuôi 02 cháu Cao Đỗ Phú Trọng và Cao Đỗ Anh Tài mỗi cháu 01 tháng 1.000.000 đồng.

Tại phiên toà chị thay đổi: Yêu cầu anh Cao Quang Sang cấp dưỡng nuôi cháu Cao Đỗ Anh Tài mỗi tháng 2.000.000 đồng, không yêu cầu anh Sang cấp dưỡng nuôi cháu Cao Đỗ Phú Trọng. Xét việc thay đổi yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị Tiên là hoàn toàn tự nguyện và không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Chị Tiên yêu cầu anh Sang cấp dưỡng nuôi cháu Cao Đỗ Anh Tài mỗi tháng 2.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy: Tại biên bản hoà giải anh Sang trình bày hiện nay công việc của anh đã ổn định hơn, có điều kiện để phụ vợ lo cho 02 con. Do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị Tiên, buộc anh Sang phải cấp dưỡng nuôi cháu Cao Đỗ Anh Tài mỗi tháng 2.000.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết nên Hội Đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên Hội Đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Từ những nhận định trên, xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Quảng Ngãi là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đỗ Cẩm Tiên, anh Cao Quang Sang phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, 235, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Cẩm Tiên được ly hôn anh Cao Quang Sang.

2. Về con chung:

- Giao 02 cháu Cao Đỗ Phú Trọng, sinh ngày 20/5/2021 và Cao Đỗ Anh Tài, sinh ngày 02/01/2024, hiện chị Đỗ Cẩm Tiên đang nuôi dưỡng cho chị Đỗ Cẩm Tiên tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng.

- Buộc anh Cao Quang Sang cấp dưỡng nuôi cháu Cao Đỗ Anh Tài, sinh ngày 02/01/2024 mỗi tháng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 7 năm 2026 cho đến khi cháu Cao Đỗ Anh Tài đủ 18 tuổi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc người thân thích; cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ thì Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà giải quyết; nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Chị Đỗ Cẩm Tiên phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000550 ngày 04/02/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi. Chị Đỗ Cẩm Tiên đã nộp đủ án phí.

- Anh Cao Quang Sang phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.

5. Kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ