vanban.org

Bản án 12/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thùy T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thùy T được ly hôn với ông Dương Văn T1. Về con chung: Giao con chung Dương Thị Trang T2, sinh ngày 22/01/2014 cho ông Dương Văn T1 được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, bà Nguyễn Thị Thùy T không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn (T-T1)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thùy T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 – VĨNH LONG
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 19-01-2026
“V/v Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo Ngoan

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Gần

2. Bà Nguyễn Thị Thúy Liễu

Thư ký phiên tòa: Ông Dương Khởi

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10- Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trường, Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 236/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2025, về việc “Xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thùy T, năm sinh 1976.

Địa chỉ: ấp G, xã H, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn: Ông Dương Văn T1, sinh năm 1975.

Địa chỉ: ấp G, xã H, tỉnh Vĩnh Long.

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày và yêu cầu như sau:

Bà Nguyễn Thị Thùy T và ông Dương Văn T1 được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H vào năm 2001 theo giấy Chứng nhận kết hôn số 288 ngày 12/12/2002. Trong quá trình chung sống nhận thấy hôn nhân không hạnh phúc, giữa vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cải vã, bất đồng nhiều quan điểm trong cuộc sống. Nhận thấy cuộc hôn nhân không thể cứu vãn, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với ông Dương Văn T1.

- Về con chung: Có 02 con chung là cháu Dương Tuấn C, sinh ngày 16/12/2001 hiện nay đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết, đối với con chưa thành niên Dương Thị Trang T2, sinh ngày 22/01/2014 hiện đang sống cùng ông T1, bà T thống nhất theo nguyện vọng của con, giao cho ông T1 trực tiếp nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn khai không có nên không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Dương Văn T1 đều vắng mặt các lần triệu tập của Tòa án nên không có lời trình bày.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự và Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhận thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy T và bị đơn ông Dương Văn T1 xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H vào năm 2001 theo giấy Chứng nhận kết hôn số 288 ngày 12/12/2002 nên quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Thùy T và ông Dương Văn T1 là hợp pháp.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy T trình bày rằng trong thời kỳ hôn nhân giữa bà với ông Dương Văn T1 thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên giữa vợ chồng ông bà phát sinh mâu thuẫn dẫn đến sống ly thân hơn 03 năm nay cho đến nay không thể hàn gắn được. Hội đồng xét xử thấy căn cứ vào lời khai của bà T cùng với việc trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông T1 để hòa giải nhằm làm rõ mâu thuẫn giữa hai bên để tìm giải pháp cho hai bên thỏa thuận, đoàn tụ với nhau nhưng ông T1 vắng mặt, như vậy chứng tỏ ông T1 không có ý chí muốn đoàn tụ với bà T. Ngoài ra, trong thời gian sống ly thân hai bên đương sự không tạo điều kiện cho nhau để cải thiện quan hệ vợ chồng, khắc phục sai lầm, cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình, chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Vậy nên, Hội đồng xét xử nhận thấy sự việc mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Thùy T và ông Dương Văn T1 đã trở nên trầm trọng, vợ chồng ly thân đã lâu nhưng không thể hàn gắn tình cảm nên việc bà T yêu cầu ly hôn với ông T1 là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Có 02 con chung là cháu Dương Tuấn C, sinh ngày 16/12/2001 hiện nay đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết, đối với con chưa thành niên Dương Thị Trang T2, sinh ngày 22/01/2014 hiện đang sống cùng ông T1, bà T thống nhất theo nguyện vọng của con, giao cho ông T1 trực tiếp nuôi dưỡng, bà T không cấp dưỡng nuôi con.

Dành cho đương sự một vụ kiện khác về quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật nếu có yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn khai không có nên không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; nguyên đơn có nghĩa vụ chịu án phí là 300.000 đồng.

Từ những nhận định trên, xét thấy quan điểm của Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 28; Điều 35; Điều 91, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thùy T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thùy T được ly hôn với ông Dương Văn T1.

Về con chung: Giao con chung Dương Thị Trang T2, sinh ngày 22/01/2014 cho ông Dương Văn T1 được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, bà Nguyễn Thị Thùy T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Dành cho đương sự một vụ kiện khác về quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật nếu có yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn khai không có nên không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thùy T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0007776 ngày 30 tháng 10 năm 2025 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10 – Vĩnh Long nên không phải nộp thêm.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt thì được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, phải thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. * Nơi nhận:

Cỡ chữ