vanban.org

Bản án 12/2026/DSST — Các yêu cầu khác về dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nông Thị H.

Buộc bị đơn ông Nông Văn Đ phải bồi thường thiệt hại số tiền 2.560.000 đồng (Hai triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng) cho bà Nông Thị H. Bác một phần khởi kiện của bà Nông Thị H đối với số tiền không được chấp nhận là 4.740.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm bốn mươi nghìn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Các yêu cầu khác về dân sự — án dân sự — "Nông Thị H -Nông Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nông Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 164 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 – LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2026/DSST
Ngày 09-6-2026
V/v: “Yêu cầu bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Xuân Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Hồng và bà Lê Thị Hòa

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Văn Thể - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Cảnh – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2026 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 102/2025/TLST, ngày 15 tháng 10 năm 2025, về việc “Yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2026/QĐST-DS, ngày 16/4/2026 và Quyết định ngừng phiên tòa số: 17/QĐST-DS ngày 14/5/2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nông Thị H, sinh năm 1977- có mặt.

Địa chỉ: Thôn Cao S, xã Nam Đ, tỉnh Lâm Đồng

- Bị đơn: Ông Nông Văn Đ, sinh năm 1980 – có mặt.

Địa chỉ: Thôn Cao S, xã Nam Đ, tỉnh Lâm Đồng

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nông Thị H trình bày: Ngày 15/5/2023 bà có ký hợp đồng mua bán tài sản với Công ty TNHH Giải Pháp Công Nghệ Camara Thành Công (Hợp đồng mua bán tài sản số: 15/5/2023/HĐKT/NTH-TC ngày 15/5/2023) để lắp đặt 03 chiếc Camara sử dụng cho gia đình, với giá là 7.300.000 đồng (Có nội dung như trong hợp đồng mua bán).

Quá trình sử dụng, ngày 19/3/2024 ông Nông Văn Đ đã có hành vi ném đá, đập phá 03 chiếc Camara của gia đình bà làm hư hỏng hoàn toàn. Sau đó bà có làm đơn yêu cầu Công an huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông cũ giải quyết. Công an có mời các bên lên làm việc, quá trình điều tra xác minh, Công an huyện Krông Nô đã ra Thông báo về việc không khởi tố vụ án hình sự.

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bà làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nông Văn Đ phải bồi thường số tiền 7.300.000 đồng (Bảy triệu bà trăm nghìn đồng). Lý do bà khởi kiện buộc ông Nông Văn Đ phải bồi thường số tiền 7.300.000 đồng là bà căn cứ vào Hợp đồng mua bán tài sản số: 15/5/2023/HĐKT/NTH-TC ngày 15/5/2023 giữa bà với Công ty TNHH Giải Pháp Công Nghệ Camara Thành Công.

Về án phí: Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.

Về chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí theo quy định của pháp luật.

- Bị đơn ông Nông Văn Đ trình bày: Ông Đ thừa nhận là có hành vi ném đá làm hư hỏng 02 chiếc Camara của gia đình bà Nông Thị H, không phải 03 chiếc Camara như bà Hiện trình bày. Sự việc đã được Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông cũ giải quyết và ra Thông báo không khởi tố vụ án hình sự với lý do không đủ yếu tố cấu thành tội Hủy hoại tài sản. Ngoài ra, theo thông báo của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Nô thì tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 1.844.444 đồng.

Nay bà H khởi kiện yêu cầu ông bồi thường số tiền 7.300.000 đồng (Bảy triệu bà trăm nghìn đồng) thì ông không đồng ý, ông chỉ đồng ý bồi thường cho bà Nông Thị H số tiền là 1.844.444 đồng.

Về án phí: Ông nhận nộp toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng các đương sự không thỏa thuận với nhau được, vì vậy Tòa án phải đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Lâm Đồng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng cũng như nội dung vụ án.

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã nghiêm túc thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình.

- Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo kết quả định giá đối với 02 chiếc camerra, bác một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về số tiền yêu cầu bồi thường.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

. Về tố tụng:

- Thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Nông Thị H khởi kiện yêu cầu ông Nông Văn Đ phải bồi thường tài sản bị thiệt hại; nguyên đơn và bị đơn đều cư trú tại xã Nam Đà. Do đó, đây là tranh chấp về dân sự, quan hệ pháp luật tranh chấp là “Yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Lâm Đồng, theo quy định tại Điều 35; các điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ mở phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng các đương sự không thỏa thuận với nhau được, vì vậy Tòa án phải đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Về thời hiệu khởi kiện: ngày 19/3/2024 ông Nông Văn Đ có hành vi đập phá làm hư hỏng. Ngày 15 tháng 10 năm 2025 bà H khởi kiện ông Đ ra Toà án yêu cầu giải quyết. Do vậy thời hiệu khởi kiện vẫn còn theo quy định của pháp luật.

.Về nội dung:

2.1. Tại giai đoạn điều tra, xác minh của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông cũ (nay là tỉnh Lâm Đồng) thể hiện, vào tối ngày 19/3/2024, ông Nông Văn Đ có hành vi đập phá làm hư hỏng 02 chiếc Camara của gia đình bà Nông Thị H tại thôn Cao S, xã Nam Đ, tỉnh Lâm Đồng. Sự việc đã được ông Nông Văn Đ thừa nhận nên không cần phải chứng minh.

2.2. Về tài sản bị thiệt hại: Bà Nông Thị H cho rằng vào tối ngày 19/3/2024 ông Nông Văn Đ có hành vi đập phá làm hư hỏng 03 chiếc Camara của gia đình bà Nông Thị H, không phải là 02 chiếc Camara nên bà khởi kiện ông Nông Văn Đ phải bồi thường số tiền 7.300.000 đồng (Bảy triệu bà trăm nghìn đồng). Lý do bà khởi kiện buộc ông Nông Văn Đ phải bồi thường số tiền 7.300.000 đồng là bà căn cứ vào Hợp đồng mua bán tài sản số: 15/5/2023/HĐKT/NTH-TC ngày 15/5/2023 giữa bà với Công ty TNHH Giải Pháp Công Nghệ Camara Thành Công thì bà mua 03 chiếc Camera trên với giá 7.300.000 đồng.

Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, bà H không có chứng cứ chứng minh ông Nông Văn Đ có hành vi đập phá làm hư hỏng 03 chiếc Camara của gia đình bà, trong giai đoạn điều tra cũng không chứng minh được.

Ông Nông Văn Đ thừa nhận có hành vi đập phá làm hư hỏng 02 chiếc Camara của gia đình bà Nông Thị H như nội dung thông báo của của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Nô.

Kết quả điều tra xác minh của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Nô cũng thể hiện ông Nông Văn Đ thừa nhận có hành vi đập phá làm hư hỏng 02 chiếc Camara của gia đình bà Nông Thị H.

Vì vậy, HĐXX căn cứ vào các tài liệu do các đương sự cung cấp, cơ quan điều tra cung cấp và đương sự khai nhận xác định bị đơn ông Nông Văn Đ có hành vi đập phá làm hư hỏng 02 chiếc Camara của gia đình bà H vào tối ngày 19/3/2024, Nên cần buộc ông Đ bồi thường cho bà H 02 Camera mà ông Đ đã đập của bà H gây thiệt hại toàn bộ.

2.3. Về giá trị tài sản bị thiệt hại:

Theo Thông báo không khởi tố vụ án hình sự số: 1116/TB-ĐTTH ngày 10/8/2024 của Công an huyện Krông Nô thể hiện tổng giá trị tài sản bị thiệt hại của 02 chiếc Camara: 01 Camara quét thông minh nhãn hiệu EZVIZ CH3 và 01 Camara quét thông minh nhãn hiệu EZVIZ H8C Pro xoay 360 độ, tổng giá trị là 1.844.444 đồng.

Theo biên bản định giá tài sản ngày 21/4/2026 của Phòng kinh tế xã Nam Đà thể hiện: 01 Camara quét thông minh nhãn hiệu EZVIZ CH3 có giá trị còn lại là 1.200.000 đồng và 01 Camara quét thông minh nhãn hiệu EZVIZ H8C Pro xoay 360 độ có giá trị còn lại là 1.360.000 đồng. Tổng giá trị 02 chiếc Camara bị hư hỏng có giá trị còn lại là 2.560.000 đồng.

HĐXX xét thấy tại thời điểm nguyên đơn bị thiệt hại cơ quan cảnh sát điều tra xác định thiệt hại 02 chiếc Camara: 01 Camara quét thông minh nhãn hiệu EZVIZ CH3 và 01 Camara quét thông minh nhãn hiệu EZVIZ H8C Pro xoay 360 độ, tổng giá trị là 1.844.444 đồng, tuy nhiên tại thời điểm xét xử hội đồng định giá xác định thiệt hại của 02 chiếc Camara có giá là 2.560.000 đồng. Vì vậy HĐXX căn cứ vào kết luận của cơ quan chuyên môn để xác định giá trị là phù hợp.

2.4. Về Hợp đồng mua bán tài sản số: 15/5/2023/HĐKT/NTH-TC ngày 15/5/2023 giữa bà H với Công ty TNHH Giải Pháp Công Nghệ Camara Thành Công. Hợp đồng lắp đặt 03 chiếc Camara sử dụng cho gia đình, bao gồm công lắp ráp và các vật dụng kèm theo, với giá là 7.300.000 đồng, Hợp đồng là sự thỏa thuận tự nguyện của các bên phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét, chỉ mang tính chất tham khảo.

Từ những phân tích nêu trên. Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nông Thị H. Cụ thể: Buộc ông Nông Văn Đ phải bồi thường cho bà Nông Thị H 02 chiếc Camara bị hư hỏng có giá trị còn lại là 2.560.000 đồng. Bác một phần khởi kiện của bà Nông Thị H. Bà H khởi kiện yêu cầu ông Nông Đ bồi thường số tiền 7.300.000 đồng - 2.560.000 đồng (Phần được chấp nhận) = 4.740.000 đồng (Phần không được chấp nhận).

. Về chi phí tố tụng (Chi phí định giá tài sản) là 800.000 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng là 800.000 đồng, số tiền tạm ứng chi phí tố tụng còn lại đã trả cho bà H xong

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 2.560.000 đồng, án phí sẽ là 300.000 đồng.

Do nguyên đơn bị bác một phần yêu cầu khởi kiện nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 4.740.000 đồng, án phí sẽ là 300.000 đồng. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà Nông Thị H đã nộp tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 9 - Lâm Đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; các điểm a, c khoản 1 Điều 39; Điều 157, Điều 164, Điều 235 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14 quy định về mức thu nộp án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nông Thị H.

Buộc bị đơn ông Nông Văn Đ phải bồi thường thiệt hại số tiền 2.560.000 đồng (Hai triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng) cho bà Nông Thị H.

Bác một phần khởi kiện của bà Nông Thị H đối với số tiền không được chấp nhận là 4.740.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm bốn mươi nghìn đồng).

2. Về án phí:

Buộc bị đơn ông Nông Văn Đ phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Buộc nguyên đơn bà Nông Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà bà Nông Thị H đã nộp tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 9 - Lâm Đồng theo biên lai số: 0005069 ngày 14 tháng 10 năm 2025.

3. Về chi phí tố tụng: (Chi phí định giá tài sản) là 800.000 đồng(Tám trăm nghìn đồng). Buộc ông Nông Văn Đ phải chịu 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng) chi phí định giá tài sản. Số tiền này bà H đã nộp tạm ứng cho Tòa án trong quá trình giải quyết nên buộc ông Đ phải trả cho bà H số tiền 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ