vanban.org

Bản án 12/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng Thịnh Vượng và Thiều Thị Thúy Liểu"
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 14 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2026/DS-ST
Ngày: 27/02/2026
Về việc: “T/c về hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Hoàng Huy Hùng;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Văn Dũng và ông Chau Khon Sốc.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Chau Chanh Đô Ra - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 14 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – An Giang tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Ngày 27 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 14 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 693/2025/TLST-DS ngày 22 tháng 12 năm 2025, về việc: “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2026/QĐXXST-DS ngày 02/02/2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V (viết tắt là V1). Trụ sở chính: Số H L, phường Đ, Thành Phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Thanh N sinh năm 1992 và ông Bùi Thanh S sinh năm 1995. Địa chỉ liên lạc: Tầng D, số A - A T, phường L, An Giang (theo văn bản ủy quyền ngày 17/10/2025).

2. Bị đơn: Bà Thiều Thị Thúy L, sinh năm 1993; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx

Nơi thường trú: Ấp V, xã V, An Giang.

(Các đương sự đều có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V (do ông Lê Thanh N, ông Bùi Thanh S đại diện) tại phiên tòa trình bày có nội dung như sau: Bà Thiều Thị Thúy L có thỏa thuận với ngân hàng thương mại cổ phần V (viết tắt là V1) để ký hợp đồng tín dụng số: LN2310100519704 Ngày 10/01/2023, vay số tiền 100.000.000đ, thời hạn vay là 60 tháng, mục đích vay để tiêu dùng và không có thế chấp tài sản; hợp đồng mở thẻ hạn mức tín dụng số: LN2309150275536 ngày 13/9/2023 số tiền: 45.000.000đ. Trong quá trình thực hiện hợp đồng thì bà Thiều Thị Thúy L không thực hiện đúng theo cam kết và còn nợ lãi vốn vay và thẻ là 256.378.376đ (trong đó: Tổng vốn là 132.735.845đ và tổng lãi là 123.642.531đ).

Nay Ngân hàng yêu cầu bà Thiều Thị Thúy L trả cho ngân hàng vốn, lãi tổng cộng là 256.378.376đ, do bà Thiều Thị Thúy L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên yêu cầu thanh toán một lần.

* Theo bản khai của bị đơn chị Thiều Thị Thúy L và tại phiên tòa có nội dung: Chị Thiều Thị Thúy L thừa nhận có ký hợp đồng tín dụng số: LN2310100519704 Ngày 10/01/2023, vay số tiền 100.000.000đ, thời hạn vay là 60 tháng, mục đích vay để tiêu dùng và không có thế chấp tài sản; hợp đồng mở thẻ hạn mức tín dụng số: LN2309150275536 ngày 13/9/2023 số tiền: 45.000.000đ, không có thế chấp tài sản như phía ngân hàng trình bày. Tuy nhiên, do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không thực hiện đúng theo cam kết như nội dung hợp đồng đã thỏa thuận và còn nợ lại số tiền vốn, lãi tổng cộng là 256.378.376đ như đại diện ngân hàng trình bày.

Nay ngân hàng yêu cầu trả vốn, lãi 256.378.376đ (trong đó: Tổng vốn là 132.735.845đ và tổng lãi là 123.642.531đ) thì chị Thiều Thị Thúy L cũng thống nhất và đồng ý trả theo yêu cầu của Ngân hàng; tuy nhiên, hiện nay hoàn cảnh làm thuê mướn, không có khả năng trả một lần nên chị Thiều Thị Thúy L đề nghị ngân hàng cho trả dần mỗi tháng 3.000.000đ đến khi hết số nợ; chị Thiều Thị Thúy L yêu cầu Ngân hàng giảm bớt phần nào lãi suất để chị có khả năng thanh toán cho ngân hàng. Ngoài ra, chị Thiều Thị Thúy L xin miễn giảm án phí trong vụ kiện tranh chấp này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ kiện và được thẩm tra tại phiên tòa, qua tranh luận công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận xét như sau:

[1] Về tố tụng: Đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng, do có một bên không đăng ký kinh doanh và không có mục đích lợi nhuận nên tranh chấp dân sự thuộc khoản 3 Điều 26; bị đơn có nơi thường trú tại xã V, tỉnh An Giang nên căn cứ khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân khu vực 14 - An Giang thụ lý đúng thẩm quyền.

Về nội dung:

[2] Về quan hệ hợp đồng tín dụng: Xét hợp đồng tín dụng số: LN2310100519704 Ngày 10/01/2023 và hợp đồng mở thẻ hạn mức tín dụng số: LN2309150275536 ngày 13/9/2023, được ký giữa V1 với chị Thiều Thị Thúy L có nội dung: “Chị Thiều Thị Thúy L vay và mở thẻ của V1 số tiền tổng cộng là 145.000.000đ, thời hạn vay của hợp đồng tín dụng là 60 tháng, lãi suất của hợp đồng tín dụng là 31,30%/năm và lãi suất của hợp đồng mở thẻ là 39,48%/năm (quá hạn 150%), mục đích vay là để tiêu dùng; ngoài ra, còn có những cam kết khác nếu không thực hiện đúng hợp đồng”. Xét hợp đồng đã được hai bên ký kết trên cơ sở tự nguyện và phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 91, Điều 94 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên có giá trị pháp lý buộc các bên phải thực hiện; phía đại diện Ngân hàng V1 xác định chị Thiều Thị Thúy L đến nay vẫn chưa thanh toán vốn với số tiền 132.735.845đ và lãi suất phát sinh; trong khi đó, chị Thiều Thị Thúy L đến nay không cung cấp chứng cứ để chứng minh đã thanh toán xong các khoản nợ cho ngân hàng; đồng thời tại phiên tòa chị đã thừa nhận còn số tiền vốn như phía ngân hàng trình bày. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì yêu cầu trả nợ của ngân hàng thương mại cổ phần V là có căn cứ nên được chấp nhận và buộc chị Thiều Thị Thúy L có trách nhiệm trả số tiền vốn đã vay còn lại là 132.735.845đ và toàn bộ lãi suất phát sinh trong hạn, quá hạn theo bản chiết tính ngày 27/02/2026 do phía Ngân hàng V1 đã tính toán, cung cấp tổng cộng là 123.642.531đ; tổng cộng vốn, lãi đến nay ngân hàng yêu cầu chị Thiều Thị Thúy L phải trả là 256.378.376đ.

[3] Về án phí, lệ phí sơ thẩm: Do bị buộc trả nợ cho ngân hàng thương mại cổ phần V nên chị Thiều Thị Thúy L phải chịu án phí theo quy định pháp luật; tuy nhiên, do có đơn xin miễn giảm án phí (có xác nhận của địa phương gia đình có hoàn cảnh khó khăn) nên được chấp nhận giảm 50% theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92; Điều 147, Điều 179, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 91, Điều 94, của luật các tổ chức tín dụng năm 2010; điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 1 Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

* Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu của ngân hàng thương mại cổ phần V (do ông Lê Thanh N, ông Bùi Thanh S đại diện). Buộc chị Thiều Thị Thúy L trả cho ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền vốn 132.735.845đ, lãi trong hạn và quá hạn là 123.642.531đ; tổng cộng, vốn và lãi phải trả là 256.378.376đ (Hai trăm năm mươi sáu triệu ba trăm bảy mươi tám ngàn ba trăm bảy mươi sáu đồng).

- Chị Thiều Thị Thúy L còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh với mức lãi suất nợ quá hạn trên số nợ gốc 132.735.845đ theo hợp đồng tín dụng số: LN2310100519704 Ngày 10/01/2023 và hợp đồng mở thẻ hạn mức tín dụng số: LN2309150275536 ngày 13/9/2023, kể từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong.

* Về án phí, lệ phí sơ thẩm:

- Chị Thiều Thị Thúy L phải chịu 12.818.900đ tiền án phí dân sự sơ thẩm; do có đơn xin miễn giảm án phí và được chấp nhận cho giảm 50% nên chị Thiều Thị Thúy L phải nộp số tiền 6.409.450đ (Sáu triệu bốn trăm lẻ chín ngàn bốn trăm năm mươi đồng).

- Ngân hàng thương mại cổ phần V không phải chịu án phí nên được hoàn lại 5.690.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo phiếu thu số 0011532 ngày 11/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Báo cho các đương sự biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ