- Tranh chấp gì? án hình sự — "TRỐN THUẾ - phạm tội trốn thuế (điều 200 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đ Công N, Lưu Thị G, Phí Đình D phạm tội “Trốn thuế”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO L | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 12/2025/HSST |
Ngày: 22-01-2025
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO L, TỈNH LÂM ĐỒNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà V Thị Thúy Thành.
Các Hội thẩm nhân dân:
bà Đỗ Thị Thƣơng Huyền.
bà Hồ Thị Hồng Liên.
Thư ký phiên tòa: ông Trƣơng Quang V – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: ông Lê Hữu Việt Phú – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại Hội T Tòa án nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 129/2024/TLST-HS ngày 27/12/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HS ngày 09/01/2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Đỗ Công N; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 26/10/1976 tại Hà Nội; Nơi trư ng trú và ch : số 292, đư ng Tr n Phú, t 12, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề Nệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Đ Lai N, sinh năm 1948 ; Con bà: Đ Thị M, sinh năm 1952; Cả hai hiện sinh sống tại t 13, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; Vợ: Lưu Thị G, sinh năm 1984; hiện trú tại t 12, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng; Con có 03 ngư i con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2021
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại bản án số 85/2024/HSST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bảo L xử phạt bị cáo 24 tháng tù về tội đưa hối lộ, hiện bị cáo đang kháng cáo bản án.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/08/2024 cho đến nay tại thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa
2. Họ và tên: Lƣu Thị G; Tên gọi khác: Không; Giới tính: N ; Sinh ngày 28/12/1984 tại Hải Dương; Nơi trư ng trú và ch : số 292, đư ng Tr n Phú, t 12, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề Nệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Lưu Văn N, sinh năm 1949; Con bà: Đ Thị C, sinh năm 1955; Cả hai hiện sinh sống tại Lạc Xuân, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng; Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; Chồng Đ Công N, sinh năm 1976; Con có 03 ngư i con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2021;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/09/2024 cho đến nay tại thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa
3. Họ và tên: Phí Đình D; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 18/08/1972 tại Hà Nội; Nơi trư ng trú và ch : thôn Phú Dương, xã Hoài Đức, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Nghề Nệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 07/10; Con ông: Phí Đình Bình, sinh năm 1930, hiện sinh sống tại xã Minh Khai, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội; Con bà: Phùng Thị Nụ (đã chết); Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; Vợ Xuân Thị Được, sinh năm 1975; hiện trú tại thôn Phú Dương, xã Hoài Đức, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Con có 03 ngư i con lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2002.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/08/2024 cho đến nay tại xã Hoài Đức, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa
Ngƣời bào chữa cho bị cáo Đỗ Công N và bị cáo Lƣu Thị G: Luật sư Phan Thị Lệ Thủy thuộc Văn phòng luật sư Phan Lệ Thủy, Đoàn luật sư tỉnh Lâm Đồng. có mặt
Địa chỉ: Số 54A/18 Nhà Chung, phư ng 3, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Ngƣời bào chữa cho bị cáo Phí Đình D: Luật sư Trƣơng Thị Ngoan thuộc Công ty Luật TNHH Hải An, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội. có mặt
Địa chỉ: Số 69 Nguyễn Thị Định, Trung Hòa, C u Giấy, Hà Nội.
N đơn dân sự: Chi Cục thuế khu vực Bảo Lộc- Bảo L
Địa chỉ: số 100 Hồ Tùng Mậu, phư ng 1, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện: ông Nguyễn Xuân Ngọc, chức vụ phó đội trư ng đội thuế. Có mặt
Ngƣời có quyền lợi, N vụ liên quan:
1. Anh Phạm Xuân T, sinh năm 1983
Địa chỉ: t 17, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng
2. Anh Nguyễn Thiên V, sinh năm 1983
Địa chỉ: 117/1B Bình Quế, phư ng 27, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh
3. Anh Lê Quang T, sinh năm 1987
Địa chỉ: thôn Khang Bình, xã Quảng Yên, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa
Ch hiện nay: Khu biệt thự Lucasta Khang Điền, quận 9, Tp. Hồ Chí Minh
4. Chị Nguyễn Thị Lệ, sinh năm 1982
Địa chỉ: số 1168/33/41 đư ng T Sa, phư ng 13, quận Phú Nhuận, Tp. Hồ Chí Minh
(Ngư i có quyền lợi N vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Gia đình vợ chồng Đ Công N, Lưu Thị G có 23 thửa đất (từ thửa 163 đến thửa 185) thuộc t bản đồ số 87, tọa lạc tại t 18, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.
Vào tháng 01/2022, do có nhu c u chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên N, G rao bán các thửa đất với giá 3.500.000đ/m2 và liên hệ với Phạm Xuân T, sinh năm 1983, NKTT: T 18, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng làm môi giới bán đất (phí môi giới 02%).
Đến tháng 4/2022, T giới thiệu cho ông Nguyễn Thiên V, sinh năm 1985, HKTT: chung cư Tân Hương, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh và Lê Quang T, sinh năm 1987, HKTT: xã Quảng Yên, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa đến xem và thống nhất mua 23 thửa đất với giá 3.300.000 đồng/1m² (Bằng ch : Ba triệu ba trăm ngàn đồng).
Ngày 28/4/2022, Trịnh Minh D, sinh ngày 11/8/1991, NKTT: 173 Nguyễn H u Cảnh, Thắng Nhất, Vng Tàu; Lê Quang T, Nguyễn Thiên V (gọi là bên A) lập Hợp đồng đặt cọc mua bán đất với vợ chồng N, G (bên B) t ng cộng 23 thửa đất với trị giá 35.700.000.000 đồng, bên A đặt cọc 09 tỷ đồng (ngày 28/4/2022 đặt cọc 5 tỷ đồng và ngày 20/5/2022 đặt cọc 4 tỷ đồng), th i hạn đặt cọc 45 ngày kể từ ngày 28/4/2022, có sự làm chứng của Phạm Xuân T; bên B ủy quyền cho ông T nộp thủ tục đ i Giấy chứng nhận chuyển quyền sử dụng 23 lô đất cho bên A (chi phí do bên A trả cho ông T); về N vụ thanh toán thuế: bên A thanh toán thuế trước bạ 0,5% giá bán theo hợp đồng công chứng; bên B thanh toán thuế thu nhập cá nhân 02% theo hợp đồng công chứng, thuế đất nông Nệp, phí công chứng, phí môi giới; Đ Công N, Lưu Thị G có trách nhiệm cùng phối hợp thực hiện các thủ tục công chứng.
Sau khi đặt cọc, Lê Quang T, Nguyễn Thiên V ủy quyền cho Công ty TNHH dịch vụ thương mại địa ốc Hoàng Th , địa chỉ: số 06, đư ng D5, KDC Nam Long, phư ng Phước Long B, thành phố Thủ Đức để giới thiệu khách nhận chuyển nhượng 23 thửa đất. Đồng th i, T liên hệ với Phí Đình D, sinh năm 1972, NKTT: thôn Phú Dương, xã Hoài Đức, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng để giới thiệu chuyển nhượng 23 thửa đất trên. Sau khi kiểm tra pháp lý, hiện trạng đất D đồng ý nhận chuyển nhượng 10/23 thửa đất với giá 15 tỷ đồng và thống nhất ngày 05/8/2022 ký hợp đồng chuyển nhượng, D sẽ trực tiếp xác định tính pháp lý, ký hợp đồng đặt cọc với N, G.
Đến ngày 05/8/2022, N và G (bên A nhận đặt cọc) lập Hợp đồng đặt cọc (bên B đặt cọc) với Phí Đình D 10 thửa đất số 163, 164, 165, 166, 167, 172, 174, 181, 182, 183 t bản đồ 87 thị trấn Lộc Thắng với t ng trị giá chuyển nhượng là 15 tỷ đồng; bên B đặt cọc cho bên A số tiền 1 tỷ, còn lại 14 tỷ thanh toán khi hoàn thành hợp đồng chuyển nhượng.
Sau đó, trong ngày 05/8/2022, tại Văn phòng Công chứng Nguyễn Thọ Quang, địa chỉ số 12 Tr n Hưng Đạo, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng, vợ chồng N, G ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 10 thửa đất số 163, 164, 165, 166, 167, 172, 174, 181, 182, 183 cho Phí Đình D; Tại điều 2 hợp đồng ghi: giá trị chuyển nhượng 5 tỷ đồng; do hai bên thỏa thuận, ngoài sự chứng kiến của công chứng viên (số công chứng 10444, quyển số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD).
Sau khi ký kết hợp đồng đến ngày 12/9/2022, Đ Công N, Lưu Thị G đã thực hiện xong thủ tục, chuyển nhượng, thay đ i quyền sử dụng 10 thửa đất nói trên cho Phí Đình D.
Tại kết luận giám định số 914/KL-KTHS ngày 30 tháng 7 ngày 2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng, kết luận: Ch ký, ch viết, dấu vân tay tại Hợp đồng đặt cọc ngày 05/08/2022, tại thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng bên nhận đặt cọc là ông Đ Công N và bà Lưu Thị G, bên đặt cọc là ông Phí Đình D và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số: 10444, quyển s 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/08/2022, tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thọ Quang, địa chỉ: số 12, đư ng Tr n Hưng Đạo, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng bên chuyển nhượng là ông Đ Công N, bà Lưu Thị G bên nhận chuyển nhượng ông Phí Đình D là của ông Đ Công N, bà Lưu Thị G, ông Phí Đình D, ký, viết và lăn tay.
Tại Kết luận giám định số 3492/CTLDO-TTKT1 ngày 17/7/2024 của T giám định theo CV – Cục thuế tỉnh Lâm Đồng kết luận: Số tiền chênh lệch không kê khai nộp thuế thu nhập cá nhân, lệ phí trước bạ là 10 tỷ. Do đó số tiền trốn thuế là: Thuế thu nhập cá nhân mà Đ Công N, Lưu Thị G phải nộp đối với số tiền 10 tỷ đồng là 200 triệu đồng; Tiền lệ phí trước bạ Phí Đình D phải nộp đối với số tiền 10 tỷ là 50 triệu đồng; T ng số thuế thu nhập cá nhân và lệ phí trước bạ là 250 triệu đồng.
Tại phiên tòa: Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không thắc mắc, không khiếu nại hay tranh luận gì.
Ngư i bào ch a cho bị cáo N trình bày: Thống nhất với đại diện VKS về hành vi phạm tội của bị cáo N và G về Điều luật, tội danh, tuy nhiên đề nghị HĐXX xem xét áp dụng cho bị cáo N, G thêm điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS, do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nên m i bị cáo nộp khắc phục hậu quả được 30.000.000 đồng, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo N, đề nghị hình phạt 03 tháng tù để bị cáo có cơ hội sửa đ i, nuôi vợ con, gia đình, bố mẹ già, vợ bệnh, con nhỏ. Về trách nhiệm dân sự, đề nghị xem xét về khoản tiền phải nộp khắc phục hậu quả do khi ký hợp đồng chuyển nhượng có sự thỏa thuận về đóng thuế gi a các bị cáo N, G, D.
VKS đối đáp: bị cáo N, G không đủ điều kiện áp dụng điểm b khoản 1 điều 51 BLHS theo quy định của pháp luật, về trách nhiệm dân sự nếu không thống nhất có quyền kh i kiện vụ án dân sự khác.
Ngư i bào ch a cho bị cáo D trình bày: Thống nhất với đại diện VKS về hành vi phạm tội của bị cáo D về Điều luật, tội danh, tuy nhiên đề nghị HĐXX xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b,i, s cho bị cáo D.
Cáo trạng 07/CT-VKSBL ngày 20/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Đ Công N, Lưu Thị G, Phí Đình D về tội “Trốn thuế” quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 200 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 200 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đ Công N từ 06 đến 09 tháng tù, th i hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Về hình phạt b sung: không áp dụng
Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 200 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lưu Thị G số tiền 100.000.000 đến 150.000.000 đồng.
Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 200 Bộ luật Hình sự; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phí Đình D số tiền 100.000.000 đến 150.000.000 đồng.
Không áp dụng hình phạt b sung đối với bị cáo Lưu Thị G, Phí Đình D
- Về trách nhiệm dân sự: Hiện các bị cáo Đ Công N, Lưu Thị G, m i bị cáo nộp số tiền 30.000.000 đồng khắc phục hậu quả. Đề nghị HĐXX buộc các bị cáo tiếp tục nộp số tiền còn lại để sung Ngân sách nhà nước. Bị cáo Phí Đình D đã nộp số tiền 50.000.000 đồng khắc phục hậu quả.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự: Đề nghị lưu theo hồ sơ vụ án: 01 Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền nhà và tài sản gắn liền với đất ngày 5/8/2022 gi a bên nhận cọc Đ Công N, Lưu Thị G và bên đặt cọc là Đ Công N (bản chính); 01 Hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất ngày 5/8/2022 bên chuyển nhượng Đ Công N, Lưu Thị G nhận chuyển nhượng Phí Đình D (bản chính).
- Về án phí: đề nghị buộc các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo nói lời sau cùng: các bị cáo nhận ra hành vi của mình là vi phạm pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Bảo L, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, l i khai của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp l i khai của bị cáo khác tại Cơ quan điều tra, phù hợp l i khai của ngư i có quyền lợi N vụ liên quan đến vụ án, ngư i làm chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có cơ s xác định: Nhằm mục đích giảm số tiền phải nộp thuế, vào ngày 05/8/2024, Phí Đình D và Đ Công N, Lưu Thị G cùng thống nhất mua bán, chuyển nhượng 10 thửa đất số 163, 164, 165, 166, 167, 172, 174, 181, 182, 183 tại t bản đồ 87, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng với t ng trị giá chuyển nhượng thực tế mà D đã trả cho N, G là 15 tỷ đồng. Tuy nhiên, khi ký kết hợp đồng tại Văn phòng Công chứng Thọ Quang, địa chỉ số 12, đư ng Tr n Hưng Đạo, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng, Phí Đình D và Đ Công N, Lưu Thị G ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 10 thửa đất số 163, 164, 165, 166, 167, 172, 174, 181, 182, 183 với giá trị chuyển nhượng ghi trên hợp đồng là 05 tỷ đồng.
Tại Kết luận giám định số 3492/CTLDO-TTKT1 ngày 17/7/2024 của T giám định theo CV – Cục thuế tỉnh Lâm Đồng kết luận: Số tiền chênh lệch không kê khai nộp thuế thu nhập cá nhân, lệ phí trước bạ là 10 tỷ. Do đó số tiền trốn thuế là: Thuế thu nhập cá nhân mà Đ Công N, Lưu Thị G phải nộp đối với số tiền 10 tỷ đồng là 200 triệu đồng; Tiền lệ phí trước bạ Phí Đình D phải nộp đối với số tiền 10 tỷ là 50 triệu đồng; T ng số thuế thu nhập cá nhân và lệ phí trước bạ là 250 triệu đồng.
Do vậy hành vi của các bị cáo Đ Công N, Lưu Thị G, Phí Đình D có đủ yếu tố cấu thành tội “Trốn thuế” quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 200 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý thuế, đư ng lối phát triển kinh tế, làm giảm thu ngân sách nhà nước, gây mất trật tự xã hội, gây dư luận xấu trong qu n chúng nhân dân do đó c n phải xử lý Nêm để giáo dục, cải tạo các bị cáo và góp ph n phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo N có bố được tặng huân chương chiến sĩ giải phóng, huân chương kháng chiến hạng 3, bị cáo có nhiều đóng góp được Thành đoàn Bảo Lộc, Uỷ ban nhân dân huyện Bảo L tặng giấy khen, bị cáo G và bị cáo D phạm tội l n đ u và thuộc T hợp ít Nêm trọng, bị cáo G có bố đẻ là thương binh loại A, được tặng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng nhất, bị cáo D nộp khắc phục toàn bộ hậu quả do đó c n áp dụng điểm s khoản 1 khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một ph n hình phạt cho bị cáo N, áp dụng điểm i, s khoản 1 khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một ph n hình phạt cho bị cáo G, áp dụng điểm b, i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một ph n hình phạt cho bị cáo D. Bị cáo N, G m i bị cáo phải nộp 100.000.000 đồng để khắc phục hậu quả nhưng bị cáo N, G mới nộp m i bị cáo được số tiền 30.000.000 đồng chưa tương xứng với số tiền phải nộp khắc phục hậu quả nên HĐXX không xem xét áp dụng điểm b khoản 1 điều 51 BLHS cho hai bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Vụ án có đồng phạm, tuy nhiên chỉ là đồng phạm giản đơn: Bị cáo N là ngư i có đ y đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, song với động cơ mục đích trốn tránh N vụ nộp thuế với nhà nước, bị cáo đã bất chấp pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với l i cố ý; xâm phạm trực tiếp đến hoạt động đúng đắn, bình thư ng của Nhà nước về lĩnh vực thuế, bị cáo có nhân thân xấu: Tại bản án số 85/2024/HSST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bảo L xử phạt bị cáo 24 tháng tù về tội đưa hối lộ. Do vậy c n cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một th i gian đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội ñoái vôùi loaïi toäi phaïm naøy.
Bị cáo G, bị cáo D nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý Nêm nhưng vẫn cố tình vi phạm, do vậy c n phải xử lý bị cáo tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên bị cáo G, bị cáo D phạm tội thuộc T hợp ít Nêm trọng có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, trong th i gian tại ngoại không vi phạm pháp luật, do đó không c n thiết xử phạt tù đối với các bị cáo mà chỉ c n áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét đề nghị của viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L thấy rằng: Mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp với nhân thân và tính chất mức độ của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra, tuy nhiên hình phạt của đại diện Viện Kiểm sát đề nghị đối với bị cáo G, D còn chưa Nêm khắc.
Về hình phạt b sung: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và l i khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy không c n áp dụng hình phạt b sung là phạt tiền đối với bị cáo N, đối với bị cáo G, D áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt b sung là phạt tiền đối với bị cáo G, D.
Về các biện pháp tư pháp: số tiền trốn thuế: Thuế thu nhập cá nhân mà Đ Công N, Lưu Thị G phải nộp đối với số tiền 10 tỷ đồng là 200 triệu đồng; Tiền lệ phí trước bạ Phí Đình D phải nộp đối với số tiền 10 tỷ là 50 triệu đồng. Hiện bị cáo D đã nộp số tiền 50.000.000 đồng khắc phục hậu quả, các bị cáo Đ Công N, Lưu Thị G, m i bị cáo nộp số tiền 30.000.000 đồng khắc phục hậu quả, c n buộc bị cáo N, G liên đới tiếp tục nộp số tiền còn lại, cụ thể bị cáo N số tiền 70.000.000 đồng, bị cáo G 70.000.000 đồng để sung Ngân sách nhà nước.
Về xử lý vật chứng: C n lưu theo hồ sơ vụ án 01 Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền nhà và tài sản gắn liền với đất ngày 5/8/2022 gi a bên nhận cọc Đ Công N, Lưu Thị G và bên đặt cọc là Đ Công N (bản chính); 01 Hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất ngày 5/8/2022 bên chuyển nhượng Đ Công N, Lưu Thị G nhận chuyển nhượng Phí Đình D (bản chính).
Các vấn đề khác: Đối với Lê Quang T thông qua quen biết có thỏa thuận chuyển nhượng 10 thửa đất với Phí Đình D l n lượt thửa 163, 164, 165, 166, 167, 172, 174, 181, 182, 183 t bản đồ 87, thống nhất giá bán 10 thửa đất trên với Phí Đình D là 15.000.000.000 đồng (Mư i lăm tỷ đồng), bên bán sẽ chịu trách nhiệm đóng thuế, phí và lệ phí, nhưng Lê Quang T không biết việc Đ Công N, Lưu Thị G và Phí Đình D thỏa thuận để trốn thuế nêu trên nên không đồng phạm trong vụ án.
Đối với Nguyễn Thiên V là ngư i được Lê Quang T yêu c u dẫn Phí Đình D đi xem đất, V không biết việc N, G và D thỏa thuận để trốn thuế và cũng không được hượng lợi từ số tiền đã trốn thuế, do đó không đồng phạm trong vụ án.
Đối với Phạm Xuân T là ngư i môi giới đối với hồ sơ công chứng số 10444, quyển số 01/2022/CC-SCC/HĐGD gi a Phí Đình D, Đ Công N, Lưu Thị G nhưng không biết nội dung N, G và D thỏa thuận để trốn thuế và cũng không được hượng lợi từ số tiền đã trốn thuế, do đó không đồng phạm trong vụ án.
Đối với bà Hoàng Thị Hiểu và Phạm Thị Ngọc Nhi là công chứng viên của Văn phòng công chứng Nguyễn Thọ Quang, đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định vủa pháp luật đối với việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với các thửa đất 163, 164, 165, 166, 167, 172, 174, 181, 182, 183 t bản đồ 87, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L, do đó không đồng phạm trong vụ án.
Đối với Chi cục thuế khu vực Bảo Lộc- Bảo L, đã xác định N vụ thuế và lệ phí đất đối với hồ sơ chuyển nhượng đối với thửa đất 163, 164, 165, 166, 167, 172, 174, 181, 182, 183 t bản đồ 87, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo L đúng trình tự, th i gian theo quy định của pháp luật.
Đối với bà Nguyễn Thị Lệ ký Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 169, t bản đồ 87, thị trấn Lộc Thắng, Bảo L với Đ Công N và Lưu Thị G. Chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Trốn thuế. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã có công văn và chuyển hồ sơ đến Chi cục thuế khu vực Bảo Lộc Bảo L để xử lý theo thẩm quyền, do vậy HĐXX không xem xét.
Về án phí, lệ phí Tòa án: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án c n buộc các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đ Công N, Lưu Thị G, Phí Đình D phạm tội “Trốn thuế”.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 200 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đ Công N 08 (tám) tháng tù. Th i hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 200 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lưu Thị G số tiền 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 200 Bộ luật hình sự; điểm b,i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phí Đình D số tiền 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng
2. Về các biện pháp tƣ pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Buộc bị cáo Đ Công N nộp số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng, bị cáo đã nộp được số tiền 30.000.000 đồng, bị cáo còn phải nộp số tiền 70.000.000 đồng để sung Ngân sách nhà nước, buộc bị cáo Lưu Thị G nộp số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng, bị cáo đã nộp được số tiền 30.000.000 đồng, bị cáo còn phải nộp số tiền 70.000.000 đồng để sung Ngân sách nhà nước.
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 50.000.000 đồng bị cáo D đã nộp.
(Bị cáo N nộp số tiền 30.000.000 đồng, bị cáo G nộp số tiền 30.000.000 đồng theo giấy nộp tiền ngày 14/01/2025, bị cáo D nộp số tiền 50.000.000 đồng theo giấy nộp tiền ngày 30/12/2024 tại tài khoản tạm gửi của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo L).
Lưu theo hồ sơ vụ án: 01 Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền nhà và tài sản gắn liền với đất ngày 5/8/2022 gi a bên nhận cọc Đ Công N, Lưu Thị G và bên đặt cọc là Đ Công N (bản chính); 01 Hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất ngày 5/8/2022 bên chuyển nhượng Đ Công N, Lưu Thị G nhận chuyển nhượng Phí Đình D (bản chính).
3. Về án phí, lệ phí Tòa án: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đ Công N, Lưu Thị G, Phí Đình D m i bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.
4. Về quyền kháng cáo: bị cáo, N đơn dân sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày 22/01/2025 để yêu c u Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Ngư i có quyền lợi, N vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu c u Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
(Ngư i có quyền lợi, N vụ liên quan chỉ được kháng cáo ph n có liên quan ).
“T hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.”.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh Lâm Đồng (2);
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- VKSND huyện Bảo L;
(ĐÃ KÝ)
- Chi cục THADS H Bảo L;
- Bị cáo, ngư i bào ch a cho bị cáo, N đơn dân sự;
- Ngư i liên quan
- Lưu hồ sơ.
V Thị Thúy Thành
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh Lâm Đồng (2);
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- VKSND huyện Bảo L;
- Chi cục THADS H Bảo L;
- Bị cáo, ngư i bào ch a cho bị cáo, N đơn dân sự;
- Ngư i liên quan
- Lưu hồ sơ.
V Thị Thúy Thành THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thƣơng Huyền- Hồ Thị Hồng Liên V Thị Thúy Thành
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng (2); - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Bảo L; - Chi cục THADS H Bảo L; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA V Thị Thúy Thành |