vanban.org

Bản án 12/2025/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 23/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Lê Hoàng C 02 năm 03 tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giam 29/8/2024. Tịch thu tiêu hủy: 01 quần dài kaki màu xanh đen, 01 áo sơ mi dài tay màu trắng chấm đen, 01 nón lưỡi trai màu đen , 01 đôi giày bata màu trắng xanh, 01 ba lô màu đen. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Le Hoang Chanh - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HS-ST
Ngày 23-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Kim Ngàn.

2. Ông Nguyễn Thế Lý.

- Thư ký phiên toà:Bà Phạm Thị Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nhật Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 271/2024/HSST ngày 20 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 3232/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian, địa điểm phiên tòa xét xử vụ án số 2/2025/TB-TA ngày 14 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Hoàng C (tên gọi khác: Không có); Giới tính: Nam; Sinh ngày 09 tháng 10 năm 1981, tại tỉnh Bến Tre; Hộ khẩu thường trú: đường L, Phường 12, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở trước khi bị bắt: đường P, Phường 15, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn Chính (đã chết) và bà Nguyễn Thị Bé H (sinh năm 1953); Bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình có 04 người con; bị cáo chung sống như vợ chồng với Lê Thị Tố Q (sinh năm 1997); Bị cáo có 01 người con (sinh năm 2017).

Nhân thân:

Ngày 20/9/2012 bị Công an quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chỉ Minh xử phạt 01 năm tù treo về hành vi “Trộm cắp tài sản” (theo Bản án số 326/2012/HS-ST ngày 13/12/2012), đã xóa án tích.

Ngày 05/5/2013 bị Công an quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về hành vi “Trộm cắp tài sản”, (theo Bản án số 263/2013/HS-ST ngày 01/10/2013), tổng hợp với hình phạt 01 năm tù theo Bản án số 326/2012/HS-ST ngày 13/12/2012 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, buộc chấp hành hình phạt chung là 03 năm tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/8/2015, đã xóa án tích.

Tiền án: 01:

Ngày 06/7/2021 bị Công an thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Tòa án Quân sự Quân khu 9 xử phạt 03 năm 06 tháng tù về hành vi “Trộm cắp tài sản” (theo Bản án số 03/2022/HS-ST ngày 18/02/2022), đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/12/2023, chưa xóa án tích.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt và tạm giam từ ngày 29/8/2024 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Ông Đỗ Hoàng L, sinh năm 1990; Địa chỉ: Khu phố 5, Phường Hiệp Thành, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Tố Q, sinh năm 1997; Địa chỉ thường trú: 25/2 Phạm Đôn, Phường 10, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi ở hiện tại: xã Bình H, huyện Bình C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài nên Lê Hoàng C nảy sinh ý định tìm người có tài sản để sơ hở để chiếm đoạt. Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 23/8/2024, C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 84B1-735.75 đến gửi tại trung tâm thương mại Parkson số 39 Lê Thánh Tôn, phường Bến Nghé, Quận 1 rồi đi bộ sang trung tâm thương mại Vincom số 72 Lê Thánh Tôn, phường Bến Nghé, Quận 1. Đến khoảng 10 giờ 40 phút cùng ngày, C đi vào cửa hàng Mini Good, tầng B2 thì phát hiện 01 máy tính Laptop, hiệu Asus UX325A core i5 của anh Đỗ Hoàng L để trên ghế nhựa tại gian hàng văn phòng phẩm không có người trông coi nên C dùng 02 tay gập màn hình laptop, bỏ vào balo màu đen đang đeo trên người rồi bỏ đi. Sau đó anh Long phát hiện bị mất tài sản nên đến Công an phường Bến Nghé, Quận 1 trình báo sự việc.

Qua điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 xác định Lê Hoàng C là người thực hiện hành vi phạm tội nên đưa về trụ sở tiến hành điều tra làm rõ.

Theo Kết luận định giá tài sản số 147/KL-HĐĐGTS ngày 27/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận 1 kết luận 01 máy tính Laptop, hiệu Asus UX325A i5 màu xám trị giá 14.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, Lê Hoàng C khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của C phù hợp với biên bản xác định địa điểm, biên bản kiểm tra camera, biên bản tạm giữ đồ vật và xác nhận bản ảnh của C đối với vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản, lời khai của bị hại và các tài liệu khác do Cơ quan điều tra thu thập.

Vật chứng vụ án:

- 01 (một) máy tính Laptop, hiệu Asus UX325A 15, đã thu hồi và trả lại cho bị hại.

Thu giữ của Lê Hoàng C:

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung S8, IMEI: 3576730811H6931.

- 01 quần dài kaki màu xanh đen, 01 áo sơ mi dài tay màu trắng chấm đen, 01 nón lưỡi trai màu đen, 01 đồng hồ đeo tay hiệu Boldr dây kim loại màu trắng, 01 đôi giày bata màu trắng xanh, 01 ba lô màu đen.

- 01 xe mô tô biển kiểm soát 84B1-735.75. Qua xác minh xe mô tô trên do chị Lê Thị Tố Q (là vợ của bị cáo C) đứng tên sở hữu. Ngày 23/8/2024, chị Quyên cho C mượn xe mô tô để sử dụng nhưng không biết C sử dụng vào mục đích phạm tội.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Đỗ Hoàng L không có yêu cầu bồi thường dân sự.

* Tại bản Cáo trạng số 03/CT-VKSQ1 ngày 17/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố và kết luận bị cáo Lê Hoàng C phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa, sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo: Lê Hoàng C từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

* Đối với vật chứng của vụ án, đề nghị Tòa án xử lý theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cụ thể:

+ Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Samsung S8, IMEI: 3576730811H6931; 01 đồng hồ đeo tay hiệu Boldr dây kim loại màu trắng do không liên quan đến hành vi phạm tội.

+ Tịch thu, tiêu hủy: 01 quần dài kaki màu xanh đen, 01 áo sơ mi dài tay màu trắng chấm đen, 01 nón lưỡi trai màu đen, 01 đôi giày bata màu trắng xanh, và 01 ba lô màu đen là trang phục bị cáo mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng.

+ 01 xe mô tô biển kiểm soát 84B1-735.75. Qua xác minh xe mô tô trên do chị Lê Thị Tố Q (là vợ của bị cáo C) đứng tên sở hữu. Ngày 23/8/2024, chị Quyên cho C mượn xe mô tô để sử dụng nhưng không biết C sử dụng vào mục đích phạm tội, phù hợp với lời khai của Lê Hoàng C. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử trả lại xe xe mô tô biển kiểm soát 84B1-735.75 cho bà Lê Thị Tố Q.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định:

Vào khoảng 10 giờ 40 phút ngày 23/8/2024 tại cửa hàng Mini Good, tầng B2, trung tâm thương mại Vincom số 72 Lê Thánh Tôn, phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, Lê Hoàng C đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 máy tính Laptop, hiệu Asus UX325A i5 trị giá 14.000.000 đồng của anh Đỗ Hoàng L. Hành vi của bị cáo C đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự cho xã hội. Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân vẫn cố tình thực hiện. Do đó, khi lượng hình, Hội đồng xét xử sẽ xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để có mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe đối với bản thân bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, nhận thấy bị cáo Lê Hoàng C thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

. Về mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của từng hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo để áp dụng mức hình phạt phù hợp đối với từng bị cáo nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật và phòng ngừa chung đối với xã hội.

Xét bị cáo Lê Hoàng C có nhân thân xấu, có 01 tiền án; từng bị kết án nhiều lần về hành vi trộm cắp nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên cần có mức án nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung với xã hội.

. Về xử lý vật chứng: Căn cứ quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- 01 máy tính Laptop, hiệu Asus UX325A 15, đã thu hồi và trả lại cho bị hại. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với vật chứng thu giữ của bị cáo Lê Hoàng C:

+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung S8, IMEI: 3576730811H6931 và 01 đồng hồ đeo tay hiệu Boldr dây kim loại màu trắng xét đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

+ 01 quần dài kaki màu xanh đen, 01 áo sơ mi dài tay màu trắng chấm đen, 01 nón lưỡi trai màu đen , 01 đôi giày bata màu trắng xanh, 01 ba lô màu đen là trang phục bị cáo Lê Hoàng C sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

+ 01 xe mô tô biển kiểm soát 84B1-735.75. Qua xác minh xe mô tô trên do chị Lê Thị Tố Q (là vợ không đăng ký kết hôn của bị cáo C) đứng tên sở hữu. Ngày 23/8/2024, chị Quyên cho C mượn xe mô tô để sử dụng nhưng không biết C sử dụng vào mục đích phạm tội; Do đó Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe cho chị Lê Thị Tố Q.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Đỗ Hoàng L không có yêu cầu bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Hoàng C phải chịu 200.000 đồng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt Lê Hoàng C 02 năm 03 tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giam 29/8/2024.

2. Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 quần dài kaki màu xanh đen, 01 áo sơ mi dài tay màu trắng chấm đen, 01 nón lưỡi trai màu đen , 01 đôi giày bata màu trắng xanh, 01 ba lô màu đen.

+ Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Samsung S8, IMEI: 3576730811H6931 và 01 đồng hồ đeo tay hiệu Boldr dây kim loại màu.

+ Trả lại cho bà Lê Thị Tố Q: 01 xe mô tô nhãn hiệu Vission biển kiểm soát 84B1-735.75.

(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1738/LNK-ĐTTH ngày 21/11/2024 của Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh).

3. Áp dụng Điều 135; 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Hoàng C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo Lê Hoàng C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ