- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Phạm Tuấn Sơn cùng đồng phạm - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Tuấn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, bị cáo Đặng Đình H phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2025/HS-ST Ngày: 09/9/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Xuân Quang.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thu Hiền, bà Nguyễn Thị Xoan.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Đức Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Hải Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh kết nối với điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh H mở phiên tòa trực tuyến xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 12/2025/QĐXXST-HS, ngày 26 tháng 8 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Đặng Đình H; Sinh ngày: 19/02/1991, tại xã T, huyện C, tỉnh H (nay là xã C, tỉnh H); Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã C, tỉnh H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đặng Đình D, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1967; Có vợ: Trần Thị L và 02 con, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2024; Anh, chị, em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ hai; Tiền sự: Không; Tiền án: Có 01 tiền án: Ngày 28/9/2022 bị Toà án nhân dân huyện C, tỉnh H xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 43/2022/HS-ST. Ngày 28/4/2023 đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng đến ngày 23/4/2025 khi chưa được xóa án tích thì tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội; Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2025 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
2. Phạm Tuấn S; Sinh ngày: 26/4/1988, tại thị trấn N, huyện C, tỉnh H (nay là xã C, tỉnh H); Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố H, xã C, tỉnh H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn T1, sinh năm 1964 (Đã chết) và bà Trần Thị Mai H1, sinh năm 1966; Có vợ: Phan Thị Thu H2 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2010 (đã chết), nhỏ nhất sinh năm 2023; Anh, chị, em ruột: Bị cáo là con duy nhất; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 02/02/2021 bị Toà án nhân dân huyện C, tỉnh H xử phạt 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại bản án số 02/2021/HS-ST. Ngày 28/9/2022 đã chấp hành xong hình phạt. Hiện đã được xóa án tích; Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2025 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chị Phan Thị Thu H2, sinh năm: 1988. Địa chỉ: Tổ dân phố H, xã C, tỉnh H. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông. Có mặt tại phiên toà.
- Chị Trần Thị L, sinh năm: 1992. Địa chỉ: Thôn T, xã C, tỉnh H. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông. Vắng mặt tại phiên toà.
Người chứng kiến:
Anh Lê Văn D1, sinh năm: 1961. Địa chỉ: Tổ dân phố H, xã C, tỉnh H. Vắng mặt tại phiên toà.
Người tham gia tố tụng khác: Cán bộ, chiến sỹ tại điểm cầu thành phần hỗ trợ phiên toà: Đồng chí Nguyễn Trọng V - Cán bộ Đội Cảnh sát bảo vệ (tổ trưởng); các đồng chí Nguyễn Văn N, Bùi Xuân Đ, đều giữ chức vụ: Cán bộ Đội Cảnh sát bảo vệ Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 16/4/2025, Phạm Tuấn S mua của một người S khai là Nguyễn Viết T2 01 túi ma túy gồm các chất tinh thể màu trắng được để trong túi nilon màu trắng với số tiền 10.000.000 đồng về để bán kiếm lời. S thanh toán cho T2 bằng hình thức quét mã QR game do T2 gửi 04 lần mỗi lần 1.000.000 đồng, tổng số tiền S đã gửi cho T2 là 4.000.000 đồng, số tiền còn lại S trả trực tiếp cho T2 bằng tiền mặt. Sau khi về nhà, S chia một phần số ma túy mua được vào một túi nilon màu trắng rồi dấu trong ống câu đối treo ở phòng khách, số còn lại để trong hộp đựng đầu kĩ thuật số tivi cạnh phòng bếp. Khoảng 18 giờ ngày 23/4/2025, trong lúc S đang ngồi uống bia cùng Đặng Đình H tại nhà S thì có một người không quen biết gọi đến số điện thoại di động 0869.715.058 của S hỏi mua 300.000 đồng tiền ma túy. S đồng ý và hẹn người này đến khu vực nhà thờ họ Võ T3 lấy ma túy, rồi đến ném tiền vào cổng nhà cho S. Sau khi thỏa thuận xong, S đi vào lấy túi ma túy đá thu dấu trong hộp cát tông sau ti vi ra, san một ít vào một túi nilon khác, rồi cầm ra nhờ H đưa lại khu vực nhà thờ họ Võ Tác, sẽ có bạn S đến lấy. Khoảng 18 giờ 25 phút cùng ngày, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X, biển kiểm soát 38C1-475.94 đưa gói ma túy của S đến khu vực nhà thờ họ Võ Tác đứng chờ bạn S đến lấy thì bị tổ tuần tra Công an tỉnh H phát hiện, thu giữ 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước (7x4)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng H đang cầm trong tay trái. H khai nhận đó là ma túy S nhờ H đưa hộ cho người khác. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Tuấn S, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H thu giữ bên trong ống câu đối treo ở phòng khách có 01 túi nilon màu trắng, kích thước (10x14)cm bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá. Ngày 27/4/2025, Phạm Tuấn S khai nhận ngoài số ma túy đã bị thu giữ trong quá trình khám xét, S còn cất dấu một gói ma túy ở bên trong hộp bìa cát tông sau tivi phòng cạnh bếp của gia đình S. Sau khi tiếp nhận thông tin, vợ của S là Phan Thị Thu H2 đã kiểm tra và tự nguyện giao nộp cho cơ quan Cảnh sát điều tra 01 túi nilon có kích thước (7x4)cm, chứa tinh thể màu trắng bên trong hộp bìa cát tông kích thước (18x17x4)cm. Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với Phạm Tuấn S và Đặng Đình H ngày 23/4/2025 tại Trung tâm y tế C xác định: Phạm Tuấn S và Đặng Đình H đều dương tính với chất ma túy Methamphetamine (MET).
Tại Bản kết luận giám định số 596/KL-KTHS ngày 29/4/2025 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: 01 túi nilon màu trắng, kích thước (7x4)cm, bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng thu giữ tại Đặng Đình H gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,24 gam; 01 túi nilon màu trắng, kích thước (10x14)cm, bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng thu giữ bên trong ống câu đối treo ở phòng khách gia đình Phạm Tuấn S gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,92 gam.
Tại Bản kết luận giám định số 626/KL-KTHS ngày 09/5/2025 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Chất tinh thể màu trắng chứa trong 01 túi nilon màu trắng, kích thước (7x4)cm gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 2 gam. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57 ngày 25/08/2022 của Chính phủ.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Cáo trạng số 04/CT-VKS-KV3, ngày 30/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh truy tố bị cáo Phạm Tuấn S về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, bị cáo Đặng Đình H về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo Phạm Tuấn S về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, bị cáo Đặng Đình H về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”.
- Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Tuấn S mức án từ 30 đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 23/4/2025).
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 250, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đặng Đình H mức án từ 36 đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 23/4/2025).
- Về hình phạt bổ sung: Xét hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, không có động cơ thu lợi, quá trình tạm giam các bị cáo mất việc làm, không có thu nhập nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự, đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu, tiêu huỷ: Số ma túy Methamphetamine có khối lượng lần lượt là 0,24 gam, 0,92 gam và 02 gam, do Phạm Tuấn S mua về để bán kiếm lời, sau khi lấy mẫu giám định đã được niêm phong; 01 chai nhựa có nắp màu vàng trên nắp chai đục 02 lỗ, một lỗ có gắn ống hút nhựa màu xanh, một lỗ có gắn cóng thủy tinh trong suốt là công cụ bị cáo S dùng để sử dụng trái phép chất ma túy.
+ Tịch thu, hóa giá, sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Redmin, màu đen, số IMEI1: 862892077932421/78, số IMEI2: 862892077932439/78, gắn sim số 0869.715.058 và 0944.705.341 thuộc sở hữu của Phạm Tuấn S, sử dụng để giao dịch bán ma túy cho đối tượng không quen biết ngày 23/4/2025; thu giữ của bị cáo Đặng Đình H ½ giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X màu đen, biển kiểm soát 38C1-475.94, số khung: RLHKC4404PY016392, số máy: KC34E5131471, đã qua sử dụng, là phương tiện bị cáo sử dụng để vận chuyển ma túy cho Phạm Tuấn S (Kèm theo 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 38000164, biển kiểm soát 38C1-475.94, mang tên Đặng Đình H). Trả lại ½ giá trị chiếc xe mô tô trên cho chủ sở hữu chung là chị Trần Thị L.
+ Trả lại cho bị cáo Đặng Đình H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A52S 5G màu đen, số IMEI 356008738078065, bên trong chứa sim số 0984.884.478 và sim số 0325.544.475.
- Về án phí: Buộc các bị cáo Phạm Tuấn S, Đặng Đình H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Không tranh luận gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh, Kiểm sát viên quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Lời khai của các bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu khác thu thập có được trong hồ sơ vụ án cho thấy: Ngày 16/4/2025, Phạm Tuấn S mua của một người đàn ông mà S khai là Nguyễn Viết T2 một gói ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 3,16 gam với giá 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), mục đích về để bán lại kiếm lời. Khoảng 18 giờ ngày 23/4/2025, trong lúc đang ngồi uống bia cùng Đặng Đình H tại nhà S thì có một một người đàn ông không quen biết gọi điện thoại hỏi S mua 300.000 đồng tiền ma túy. S đồng ý và thỏa thuận giao ma túy cho người này ở khu vực nhà thờ V1, còn người này sẽ trả tiền bằng cách ném vào cổng nhà S. Sau đó S nhờ Đặng Đình H đưa gói ma túy Methamphetamine có khối lượng 0,24 gam đến nhà thờ họ Võ Tác “sẽ có bạn S đến lấy”. Đặng Đình H đồng ý và sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X, biển kiểm soát 38C1-475.94 của H đưa gói ma túy đến khu vực nhà thờ V1 thì bị phát hiện, bắt giữ.
Trong vụ án này, bị cáo S đã có hành vi mua trái phép một khối lượng ma tuý với giá 10.000.000 đồng nhằm mục đích về bán cho các con nghiện để kiếm lời nên sau khi có một người không quen biết điện thoại cho bị cáo S mua 300.000 đồng ma tuý nên S đã đồng ý thoả thuận giao ma tuý cho người này ở nhà thờ V1 còn người này sẽ trả tiền bằng cách ném tiền vào cổng nhà S và sau đó bị cáo S đã nhờ bị cáo H đưa đến nhà thờ Võ Tác .
Còn bị cáo H, sau khi bị cáo S nhờ đưa số ma tuý mà bị cáo chia nhỏ để đưa lại nhà thờ Võ T3 và tại thời điểm đó mặc dù bị cáo H không biết mục đích của bị cáo S là mua bán trái phép chất ma tuý nhưng bị cáo H vẫn biết được chất trong túi ni lông mà bị cáo S đưa cho là ma tuý và đồng ý vận chuyển đến nhà thờ V1 để giao ma tuý.
Bên cạnh đó, Bản kết luận giám định số 596/KL-KTHS ngày 29/4/2025 và Bản kết luận giám định số 626/KL-KTHS ngày 09/5/2025 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Chất tinh thể màu trắng chứa trong 01 túi nilon màu trắng, gửi đến giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57 ngày 25/08/2022 của Chính phủ.
Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Tuấn S đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, bị cáo Đặng Đình H đã phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng: Trong vụ án này, bị cáo H đã bị Toà án nhân dân huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 43/2022/HS-ST ngày 28/9/2022. Ngày 28/4/2023 đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng đến ngày 23/4/2025 khi chưa được xóa án tích thì tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó bị cáo H phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Phạm tội thuộc trường hợp Tái phạm, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Còn đối với bị cáo S: Không có tình tiết tăng nặng theo quy định pháp luật nhưng vào ngày 02/02/2021 bị Toà án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại bản án số 02/2021/HS-ST. Ngày 28/9/2022 đã chấp hành xong hình phạt. Mặc dù đã được xóa án tích nhưng cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ này theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nên cần xử các bị cáo Phạm Tuấn S, Đặng Đình H mức án như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ.
Trong vụ án này, theo lời khai của bị cáo Phạm Tuấn S, đối tượng bán ma túy cho S có tên là Nguyễn Viết T2, trú tại thôn Y, xã X, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (nay là thôn Y, xã X, tỉnh Hà Tĩnh). Quá trình điều tra, xác minh, Nguyễn Viết T2 không có mặt tại địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã tiến hành xác minh, truy tìm nhưng chưa có kết quả, chưa có căn cứ kết luận hành vi của Nguyễn Viết T2. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau. Đối với người đàn ông gọi điện thoại cho bị cáo Phạm Tuấn S để mua 0,24 gam ma túy, do S không biết tên tuổi, địa chỉ, không nhớ số điện thoại nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đủ căn cứ để xác minh, xử lý.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có việc làm, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền.
Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã thu giữ được một số vật chứng sau:
- Số ma túy Methamphetamine có khối lượng lần lượt là: 0,24 gam, 0,92 gam và 02 gam, do bị cáo Phạm Tuấn S mua về để bán kiếm lời, sau khi lấy mẫu giám định đã được niêm phong; 01 chai nhựa có nắp màu vàng trên nắp chai đục 02 lỗ, một lỗ có gắn ống hút nhựa màu xanh, một lỗ có gắn cóng thủy tinh trong suốt là công cụ S dùng để sử dụng trái phép chất ma túy nên cần tịch thu, tiêu huỷ;
- 01 điện thoại di động hiệu Redmin, màu đen, số IMEI 1: 862892077932421/78, IMEI 2: 862892077932439/78, gắn sim số 0869.715.058 và 0944.705.341 thuộc sở hữu của Phạm Tuấn S, sử dụng để giao dịch bán ma túy cho đối tượng không quen biết ngày 23/4/2025 nên cần tịch thu, hoá giá, sung công quỹ Nhà nước;
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X màu đen, biển kiểm soát 38C1-475.94, số khung: RLHKC4404PY016392, số máy: KC34E5131471, đã qua sử dụng, kèm theo 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 38000164, biển kiểm soát 38C1-475.94, mang tên Đặng Đình H. Đây là phương tiện mà bị cáo H sử dụng để vận chuyển ma túy cho bị cáo Phạm Tuấn S nên HĐXX xét thấy cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, HĐXX xác định chiếc xe này là tài sản chung của bị cáo H và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Trần Thị L và chị L không biết bị cáo sử dụng chiếc xe này làm phương tiện phạm tội. Do đó, HĐXX cần áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu của bị cáo Đặng Đình H ½ giá trị chiếc xe mô tô (Kèm theo 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 38000164, biển kiểm soát 38C1-475.94, mang tên Đặng Đình H) để sung công quỹ Nhà nước. Trả lại ½ giá trị chiếc xe mô tô trên cho chủ sở hữu chung là chị Trần Thị L;
- Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A52S 5G màu đen, số IMEI 356008738078065, bên trong chứa sim số 0984.884.478 và sim số 0325.544.475, thuộc sở hữu của bị cáo Đặng Đình H, không liên quan đến hoạt động phạm tội.
Các vật chứng nêu trên được xử lý theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Các bị cáo Phạm Tuấn S, Đặng Đình H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phạm Tuấn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, bị cáo Đặng Đình H phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 250, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đặng Đình H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 23/4/2025).
Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Tuấn S 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 23/4/2025).
* Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:
- Tịch thu, tiêu huỷ: Số ma túy Methamphetamine có khối lượng lần lượt là: 0,24 gam, 0,92 gam và 02 gam, do Phạm Tuấn S mua về để bán kiếm lời, sau khi lấy mẫu giám định đã được niêm phong; 01 chai nhựa có nắp màu vàng trên nắp chai đục 02 lỗ, một lỗ có gắn ống hút nhựa màu xanh, một lỗ có gắn cóng thủy tinh trong suốt là công cụ bị cáo S dùng để sử dụng trái phép chất ma túy.
- Tịch thu, hoá giá, sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Redmin, màu đen, số IMEI 1: 862892077932421/78, IMEI 2: 862892077932439/78, gắn sim số 0869.715.058 và 0944.705.341 thuộc sở hữu của Phạm Tuấn S, sử dụng để giao dịch bán ma túy cho đối tượng không quen biết ngày 23/4/2025.
- Tịch thu của bị cáo Đặng Đình H ½ giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X màu đen, biển kiểm soát 38C1-475.94 (Kèm theo 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 38000164, biển kiểm soát 38C1-475.94, mang tên Đặng Đình H) để sung công quỹ Nhà nước. Trả lại ½ giá trị chiếc xe mô tô trên cho chủ sở hữu chung là chị Trần Thị L.
- Trả lại cho bị cáo Đặng Đình H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A52S 5G màu đen, số IMEI 356008738078065, bên trong chứa sim số 0984.884.478 và sim số 0325.544.475.
Các vật chứng nêu trên đang tạm giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3
- Hà Tĩnh và có đặc điểm, tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Hà Tĩnh ngày 04 tháng 8 năm 2025.
* Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử: Buộc các bị cáo Phạm Tuấn S, Đặng Đình H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Công an tỉnh Hà Tĩnh (Phòng PC 01, PV 06); - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh; - THADS tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND khu vực 3 - Hà Tĩnh; - Phòng THADS khu vực 3 - Hà Tĩnh; - Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Xuân Quang |