vanban.org

Bản án 12/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 10 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai Tuyên án 11/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tội danh: Tuyên bố các bị cáo H’Yun, H’Yêm, H’Khŭk, Klong, H’Kuinh phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 56 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo H’Yun. Xử phạt bị cáo H’Yun 9 (Chín) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "H'yun - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tội danh: Tuyên bố các bị cáo H’Yun, H’Yêm, H’Khŭk, Klong, H’Kuinh phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 12 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 – GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HS-ST
Ngày: 11/9/2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – GIA LAI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đại Dƣơng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Hà

Bà Nguyễn Thị Định

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Bửu - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 11/9/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân khu vực 10 – Gia Lai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2025/TLST-HS, ngày 08 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2025 đối với các bị cáo:

1/ H’yun (Tên gọi khác: Không)

Sinh ngày: 15/7/2000 tại tỉnh Gia Lai

Căn cước công dân số: 064300016306 do Cục CSQLHC về TTXH cấp ngày 04/6/2023

Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Làng Bông Phun, phường An Phú, tỉnh

Gia Lai

Nghề nghiệp: Làm nông; Học vấn: 6/12; Dân tộc: Gia Rai; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngưnh – Sinh năm: 1977 và bà H’niêm – Sinh năm: 1983; hiện trú tại Làng Bông Phun, phường An Phú, tỉnh Gia Lai. Gia đình có 04 chị em, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2014, bị cáo là con thứ 01 trong gia đình. Bị cáo chưa có chồng và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2023, hiện trú tại: Làng Bông Phun, phường An Phú, tỉnh Gia Lai

Tiền án: 01 tiền án: Ngày 13/5/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số: 10/2020/HSST (đang được hoãn chấp hành án).

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/5/2025 đến nay (Có mặt).

2/ H’yêm; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ

Sinh ngày: 14/5/2003 tại tỉnh Gia Lai

Căn cước công dân số: 064303005645 do Cục CSQLHC về TTXH cấp ngày 05/3/2025

Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Làng Bông Phun, phường An Phú, tỉnh

Gia Lai

Nghề nghiệp: Làm nông; Học vấn: 4/12; Dân tộc: Gia Rai; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngưnh – Sinh năm: 1977 và bà H’niêm – Sinh năm: 1983; Hiện trú tại Làng Bông Phun, phường An Phú, tỉnh Gia Lai. Gia đình có 04 chị em, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2014, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình. Bị cáo có chồng là Guin – Sinh năm: 2000 và 01 người con sinh năm 2020; Hiện trú tại: Làng Bông Phun, phường An Phú, tỉnh Gia Lai.

Tiền án; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/5/2025 đến nay (Có mặt).

3/ H’Khũk; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ

Sinh ngày: 02/11/2000 tại tỉnh Gia Lai

Căn cước công dân số: 064300006441 do Cục CSQLHC về TTXH cấp ngày

Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Làng Bông Bao, phường An Phú, tỉnh

Gia Lai

Nghề nghiệp: Làm nông; Học vấn: 5/12; Dân tộc: Gia Rai; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Khăi – Sinh năm: 1968 và bà H’Wẽt – Sinh năm: 1963; Hiện trú tại Làng Bông Bao, phường An Phú, tỉnh Gia Lai. Gia đình có 03 chị em, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2001, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình. Bị cáo có chồng là Klong – Sinh năm: 2004 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2024; Hiện trú tại: Làng Bông Phun, phường An Phú, tỉnh Gia Lai.

Tiền án; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/5/2025 đến nay (Có mặt).

4/ H’Kuinh; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ

Sinh ngày: 04/8/2001 tại tỉnh Gia Lai

Căn cước công dân số: 064301013836 do Cục CSQLHC về TTXH cấp ngày

Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Làng Bông Bao, phường An Phú, tỉnh

Gia Lai

Nghề nghiệp: Làm nông; Học vấn: 4/12; Dân tộc: Gia Rai; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Khăi – Sinh năm: 1968 và bà H’Wẽt – Sinh năm: 1963; Hiện trú tại Làng Bông Bao, phường An Phú, tỉnh Gia Lai. Gia đình có 03 chị em, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2001, bị cáo là con thứ 03 trong gia đình. Bị cáo chưa có chồng và có 01 người con sinh năm 2021; Hiện trú tại: Làng Bông Phun, phường An Phú, tỉnh Gia Lai.

Tiền án; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/5/2025 đến nay (Có mặt).

5/ KLong; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam

Sinh ngày: 15/6/2004 tại tỉnh Gia Lai

Căn cước công dân số: 06404017177 do Cục CSQLHC về TTXH cấp ngày

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Làng Do Guăh, phường An Phú, tỉnh

Gia Lai

Nơi ở hiện nay: Làng Bông Phun, phường An Phú, tỉnh Gia Lai.

Nghề nghiệp: Làm nông; Học vấn: 4/12; Dân tộc: Gia Rai; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; con ông H’Lũl – Sinh năm: 1960 và bà Num – Sinh năm: 1969; Hiện trú tại Làng Do Guăh, phường An Phú, tỉnh Gia Lai. Gia đình có 04 chị em, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2004, bị cáo là con thứ 04 trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ là H’Khũk – Sinh năm: 2000 và có 01 người con sinh năm 2024; Hiện trú tại: Làng Bông Bao, phường An Phú, tỉnh Gia Lai.

Tiền án; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/5/2025 đến nay (Có mặt).

* Bị hại: Ông Ayut – Sinh năm: 1973

Trú tại: Làng Tuơh Ktu, xã Đak Đoa, tỉnh Gia Lai (Vắng mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Khăi – Sinh ngày: 23/3/1996

Trú tại: Làng Bông Bao, phường An Phú, tỉnh Gia Lai (Vắng mặt)

2/ H’Yiêng – Sinh ngày: 06/5/2011

Trú tại: Làng Bông Phun, phường An Phú, tỉnh Gia Lai (Có mặt)

Người giám hộ cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan H’Yiêng:

1/ H’Niêm – Sinh năm: 1983

Trú tại: Làng Bông Phun, phường An Phú, tỉnh Gia Lai (Có mặt)

2/ Ngƣng – Sinh năm: 1977

Trú tại: Làng Bông Phun, phường An Phú, tỉnh Gia Lai (Vắng mặt).

* Người phiên dịch: Bà Hyan là người phiên dịch tiếng Bahnar (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 04/01/2025, H’Yun sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung A24 nhắn tin qua ứng dụng Facebook Messenger cho H’Khŭk với nội dung “Đi kiếm tiền không” (H’Khŭk hiểu là đi trộm cắp cà phê), H’Khŭk đồng ý rồi rủ thêm Klong (chồng H’Khŭk) và H’Kuinh (em gái H’Khŭk) đi trộm cắp cà phê thì cả hai đồng ý. H’Yun rủ thêm H’Yêm và H’Yiêng (Sinh ngày 06/5/2011 là 02 em gái H’Yun đi trộm cắp cà phê; H’Yêm và H’Yiêng đồng ý. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, Klong điều khiển xe mô tô biển số 51L6 – 1977 chở theo H’Khŭk và H’Kuinh đến nhà H’Yun (trước khi đi H’Khŭk đã chuẩn bị sẵn 02 bao tải màu đỏ, 01 gùi và 01 cái rổ nhựa, còn H’Kuinh thì chuẩn bị sẵn 01 bao tải màu đỏ và 01 gùi). Khi cả ba đến nhà H’Yun thì thấy H’Yun, H’Yêm và H’Yiêng đang đợi sẵn, mỗi người cầm 01 bao màu đỏ và 01 gùi. H’Yun điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 81T5 – 2660 chở theo H’Kuinh, Klong điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 51L6 – 1977 chở theo H’Khŭk, H’Yêm điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 81B3 – 347.89 chở H’Yiêng đi đến khu vực vườn rẫy cà phê của ông Ayut tại thôn Tuơh Ktu, xã Glar, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai (Nay là xã Đak Đoa, tỉnh Gia Lai) thấy vườn cà phê của ông Ayut đang hái dở và không có người trông coi nên cả nhóm thống nhất trộm cắp cà phê tại vườn cà phê này. H’Yun, Klong và H’Yêm điều khiển 03 xe mô tô vào vườn cà phê đối diện để giấu xe, sau đó cả nhóm cầm theo bao tải, gùi và rổ đi vào vườn để hái trộm quả cà phê tươi. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, cả nhóm hái được 06 bao cà phê và chuẩn bị đi về thì bị ông Ayut đi kiểm tra vườn cà phê phát hiện nên cả nhóm bỏ chạy, để lại 06 bao cà phê tại vườn cà phê của ông Ayut. H’Yun, H’Yêm, H’Khŭk, Klong và H’Kuinh điều khiển hai xe mô tô bỏ chạy về nhà trước còn H’Yiêng thì trốn trong vườn cà phê. Ông Ayut giữ được xe mô tô biển số 81T5 – 2660 và 06 bao cà phê, tổng khối lượng 241,5kg. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, biết ông Ayut đã giữ được xe mô tô biển số 81T5 – 2660 (là xe H’Yun sử dụng đi đến rẫy ông Ayut) nên H’Yiêng đi đến vườn cà phê gặp ông Ayut thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản cùng H’Yun, H’Yêm, H’Khŭk, Klong, H’Kuinh như trên. Ông Ayut đã báo cáo sự việc đến Công an xã Glar để tiến hành điều tra, xử lý vụ việc.

Tại Kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 22/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đak Đoa kết luận: Tại thời điểm bị chiếm đoạt, 241,5kg quả cà phê tươi (loại cà phê Robusta) có trị giá là 6.641.250 đồng.

vật chứng của vụ án:

- Đối với 05 cái gùi, 01 cái rổ là công cụ mà H’Yun, H’Yêm, H’Yiêng, H’Khŭk, Klong và H’Kuinh sử dụng để trộm cắp tài sản. Sau khi bị phát hiện, các đối tượng vứt lại trên đường bỏ chạy, không rõ vị trí nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung A24 mà H’Yun sử dụng liên lạc với H’Khŭk để rủ H’Khŭk đi trộm cắp, sau khi phạm tội đã bị hư hỏng nên H’Yun đã bán phế liệu cho một người mua phế liệu dạo (không rõ nhân thân, lai lịch) nên không thu hồi được.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 mà H’Khŭk sử dụng để liên lạc với H’Yun khi đi trộm cắp, sau khi phạm tội đã bị hư hỏng nên H’Yun đã bán phế liệu cho một người mua phế liệu dạo (không rõ nhân thân, lai lịch) nên không thu hồi được.

- Đối với 241,5kg quả cà phê tươi (loại cà phê Robusta), là tài sản của ông Ayut bị trộm cắp nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Ayut là chủ sở hữu.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu PRESENT, biển kiểm soát 81T5 – 2660, số máy: 1P50FMG003459, số khung: CG2UM8XE03459, đây là tài sản hợp pháp của chị H’Niêm (Sinh năm 1983; trú tại làng Bông Phun, xã An Phú, tỉnh Gia Lai – mẹ của H’Yun và H’Yiêng). Chiếc xe do chị H’Niêm mua lại của anh Nguyễn Hoàng Tú (Sinh năm 1970; trú tại thôn 3, xã Biển Hồ, tỉnh Gia Lai), anh Tú mua lại chiếc xe mô tô của anh Krưih (Sinh năm 1981; trú tại làng Têng I, xã Biển Hồ, tỉnh Gia Lai; anh Krưih là người đứng tên trên chứng nhận đăng ký xe). Khi mua, bán xe thì chị H’Niêm, anh Tú đều không làm thủ tục chuyển quyền sở hữu. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai đã có văn bản, đồng thời chuyển tài liệu cùng phương tiện đến Phòng Cảnh sát Giao thông Công an tỉnh Gia Lai tiến hành xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

- Đối với xe mô tô LONCIN, biển kiểm soát 81B3 – 347.89, số máy: LC1P50FMG200222659, số khung: LWGXCGL06Y1092859, đây là tài sản hợp pháp của chị H’Niêm. Chiếc xe do chị H’Niêm mua lại của anh Võ Xuân Quý (Sinh năm 1990; trú tại thôn 1, xã An Phú, tỉnh Gia Lai), khi mua xe thì chị H’Niêm không làm thủ tục chuyển quyền sở hữu. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai đã có văn bản, đồng thời chuyển tài liệu cùng phương tiện đến Phòng Cảnh sát Giao thông Công an tỉnh Gia Lai tiến hành xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu NEW VMC, biển kiểm soát 51L6 – 1977, số máy: 360104010, số khung: 61000010, đây là tài sản hợp pháp của ông Khăi (Sinh năm 1968; trú tại làng Bông Bao, xã An Phú, tỉnh Gia Lai – bố ruột của H’Khŭk và H’Kuinh). Ông Khăi mua lại của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch, khi mua xe không làm thủ tục chuyển quyền sở hữu mà chỉ có chứng nhận đăng ký xe.

Qua tra cứu tại Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện Đak Đoa xác định chủ sở hữu xe mô tô có biển kiểm soát 51L6 – 1977 trên chứng nhận đăng ký xe là Nguyễn Thị Mộng Tuyền (Trú tại số 2385/62/7 đường Phạm Thế Hiển, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh). Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai đã ủy thác điều tra cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hồ Chí Minh phối hợp xác minh làm rõ nguồn gốc xe mô tô trên nhưng chưa có kết quả. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai tiếp tục tiến hành điều tra làm rõ nguồn gốc xe mô tô biển kiểm soát “51L6 – 1977” xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Ayut đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại Cáo trạng số: 13/CT-VKSKV10, ngày 08 tháng 8 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10, tỉnh Gia Lai truy tố các bị cáo H’Yun, H’Yêm, H’Khŭk, Klong và H’Kuinh về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo H’Yun, H’Yêm, H’Khŭk, Klong và H’Kuinh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 56 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo H’yun

Xử phạt bị cáo H’yun mức án từ 9 đến 12 tháng tù và tổng hợp 07 tháng tù mà bị cáo chưa chấp hành tại bản án số: 10/2020/HSST ngày 13/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai thành hình phạt chung đối với bị cáo. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điểm i, s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Klong.

Xử phạt bị cáo Klong từ 6 đến 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. thời gian thử thách là 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo H’Yêm, H’Khŭk và H’Kuinh.

Xử phạt bị cáo H’Yêm từ 6 đến 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. thời gian thử thách là 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án

Xử phạt bị cáo H’Khŭk từ 6 đến 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. thời gian thử thách là 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án

Xử phạt bị cáo H’Kuinh từ 6 đến 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. thời gian thử thách là 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án

Giao các bị cáo Klong, H’Yêm, H’Khŭk, H’Kuinh cho Ủy ban nhân dân phường An Phú, tỉnh Gia Lai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm 2 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 của bộ luật tố tụng hình sự, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự

Trả vật chứng cho người quản lý hợp pháp:

- 01 với xe mô tô nhãn hiệu NEW VMC, biển kiểm soát 51L6 – 1977, số máy: 360104010, số khung: 61000010 cho ông Khăi.

+ Ý kiến của các bị cáo: Thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng là đúng và xin giảm nhẹ hình phạt.

+ Ý kiến của người bị hại: Xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra: Điều tra viên Công tỉnh Gia Lai, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10, tỉnh Gia Lai. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bị cáo và những người tham gia tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và các đương sự trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện đều hợp pháp.

Xét hành vi bị truy tố của bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở xác định:

Do muốn có tiền tiêu sài cho cá nhân nên khoảng 11 giờ ngày 04/01/2025, H’Yun nhắn tin cho H’Khŭk hỏi “Đi kiếm tiền không” , H’Khŭk đồng ý rồi rủ thêm Klong và H’Kuinh đi trộm cắp cà phê thì cả hai đồng ý. H’Yun rủ thêm H’Yêm và H’Yiêng đi trộm cắp cà phê thì H’Yêm và H’Yiêng đồng ý. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, Klong điều khiển xe mô tô biển số 51L6 – 1977 chở theo H’Khŭk và H’Kuinh đến nhà H’Yun (trước khi đi H’Khŭk đã chuẩn bị sẵn 02 bao tải màu đỏ, 01 gùi và 01 cái rổ nhựa, còn H’Kuinh thì chuẩn bị sẵn 01 bao tải màu đỏ và 01 gùi). Khi cả ba đến nhà H’Yun thì thấy H’Yun, H’Yêm và H’Yiêng đang đợi sẵn, mỗi người cầm 01 bao màu đỏ và 01 gùi. H’Yun điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 81T5 – 2660 chở theo H’Kuinh, Klong điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 51L6 – 1977 chở theo H’Khŭk, H’Yêm điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 81B3 – 347.89 chở H’Yiêng đi đến khu vực vườn rẫy cà phê của ông Ayut tại thôn Tuơh Ktu, xã Glar, huyện Đak Đoa ( Nay là thôn Tuơh Ktu, xã Đak Đoa), tỉnh Gia Lai. Thấy vườn cà phê của ông Ayut đang hái dở và không có người trông coi nên cả nhóm thống nhất trộm cắp cà phê tại vườn cà phê này. H’Yun, Klong và H’Yêm điều khiển 03 xe mô tô vào vườn cà phê đối diện để giấu xe, sau đó cả nhóm cầm theo bao tải, gùi và rổ đi vào vườn để hái trộm quả cà phê tươi. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, cả nhóm hái được 06 bao cà phê và chuẩn bị đi về thì bị ông Ayut đi kiểm tra vườn cà phê phát hiện nên cả nhóm bỏ chạy, để lại 06 bao cà phê tại vườn cà phê của ông Ayut. H’Yun, H’Yêm, H’Khŭk, Klong và H’Kuinh điều khiển hai xe mô tô bỏ chạy về nhà trước còn H’Yiêng thì trốn trong vườn cà phê. Ông Ayut giữ được xe mô tô biển số 81T5 – 2660 và 06 bao cà phê, tổng khối lượng 241,5kg. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, biết ông Ayut đã giữ được xe mô tô biển số 81T5 – 2660 là xe H’Yun sử dụng đi đến rẫy ông Ayut nên H’Yiêng đi đến vườn cà phê gặp ông Ayut thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản cùng H’Yun, H’Yêm, H’Khŭk, Klong, H’Kuinh như trên là phạm tội. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10, tỉnh Gia Lai truy tố các bị cáo H’Yun, H’Yêm, H’Khŭk, Klong, H’Kuinh về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H’Yun phải chịu tình tiết tăng nặng tái phạm theo quy định điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Các tình tiết gi m nh trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, biết ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoải 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đối với các bị cáo H’Yêm, H’Khŭk, Klong, H’Kuinh phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần được áp dụng giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Về hình phạt: Xét bị cáo là thanh niên có sức khỏe nhưng lười lao động, muốn có tiền tiêu xài từ việc làm bất chính, biết hành vi trộm cắp đó là phạm tội và sẽ bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật, nhưng vì thích thụ hưởng mà tài sản không phải do mình làm ra nên trộm cắp cà phê bán lấy tiền chia nhau tiêu sài cá nhân, hành vi đó của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ và làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương nên phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội đã gây ra, cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian dài để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.

Đối với H’yun là người cầm đầu, rủ H’Khŭk, H’Yêm và H’Yiêng trộm cắp tài sản và là người đã có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản đang dược hoãn chấp hành án vì nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, lần phạm tội này bị cáo thực hiện hành vi phạm tội tích cực nên phải chịu hình phạt cao nhất và phải tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đối với bị cáo.

Đối với Klong là thanh niên mạnh khỏe nhưng khi được rủ trộm cắp là đồng ý ngay và tích cự thực hiện hành vi phạm tội với vai trọ là người thực hành nên phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội đã gây ra.

Đối với H’Khŭk khi được rủ trộm cắp là đồng ý ngay và tích cự thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là người thực hành, ngoài ra bị cáo còn rủ thêm chồng là Klong và em gái là H’Kuinh trộm cắpnên phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội đã gây ra. Tuy nhiên, bị cáo còn có con nhỏ và chồng của bị cáo cũng là bị cáo trong vụ án này nên xét thấy áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo để bị cáo có điều kiện chăm sóc con.

Đối với H’Kuinh khi được rủ trộm cắp bị cáo đồng ý đi và thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là người thực hành. Tuy nhiên, bị cáo không có chồng và có con nhỏ, nên xét thấy áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo để bị cáo có điều kiện chăm sóc con.

Đối với H’Yêm khi được rủ trộm cắp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là người thực hành. Nhưng xét thấy bị cáo có con nhỏ và đang mang thai 6 tháng tuổi nên áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo để bị cáo có điều kiện chăm sóc con và dưỡng thai nhi.

Đối với H’Yiêng (Sinh ngày 06/5/2011), tính đến thời điểm thực hiện hành vi vi phạm thì H’Yiêng được 13 năm 07 tháng 27 ngày tuổi. Căn cứ Điều 12 Bộ luật Hình sự thì H’Yiêng chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra không truy tố là đúng quy định của pháp luật.

Đối với bà H’Niêm là mẹ của H’Yun, H’Yêm và H’Yiêng, không biết H’Yun, H’Yêm sử dụng xe mô tô biển số 81T5 – 2660 và xe mô tô biển số 81B3 – 347.89 làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra không truy tố là đúng quy định của pháp luật.

Đối với ông Khăi là bố của H’Khŭk và H’Kuinh, không biết H’Khŭk sử dụng xe mô tô biển số 51L6 – 1977 làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra không truy tố là đúng quy định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có việc làm, thu nhập ổng định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 05 cái gùi, 01 cái rổ là công cụ mà H’Yun, H’Yêm, H’Yiêng, H’Khŭk, Klong và H’Kuinh sử dụng để trộm cắp tài sản. Sau khi bị phát hiện, các đối tượng vứt lại trên đường bỏ chạy, không rõ vị trí nên Cơ quan điều tra không thu giữ được. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung A24 mà H’Yun sử dụng liên lạc với H’Khŭk để rủ H’Khŭk đi trộm cắp, sau khi phạm tội đã bị hư hỏng nên H’Yun đã bán phế liệu cho một người mua phế liệu dạo (không rõ nhân thân, lai lịch) nên không thu hồi được. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 mà H’Khŭk sử dụng để liên lạc với H’Yun khi đi trộm cắp, sau khi phạm tội đã bị hư hỏng nên H’Yun đã bán phế liệu cho một người mua phế liệu dạo (không rõ nhân thân, lai lịch) nên không thu hồi được. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 241,5kg quả cà phê tươi (loại cà phê Robusta), là tài sản của ông Ayut bị trộm cắp nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Ayut là chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu PRESENT, biển kiểm soát 81T5 – 2660, số máy: 1P50FMG003459, số khung: CG2UM8XE03459, đây là tài sản hợp pháp của chị H’Niêm (Sinh năm 1983; trú tại làng Bông Phun, xã An Phú, tỉnh Gia Lai – mẹ của H’Yun và H’Yiêng). Chiếc xe do chị H’Niêm mua lại của anh Nguyễn Hoàng Tú (Sinh năm 1970; trú tại thôn 3, xã Biển Hồ, tỉnh Gia Lai), anh Tú mua lại chiếc xe mô tô của anh Krưih (Sinh năm 1981; trú tại làng Têng I, xã Biển Hồ, tỉnh Gia Lai; anh Krưih là người đứng tên trên chứng nhận đăng ký xe). Khi mua, bán xe thì chị H’Niêm, anh Tú đều không làm thủ tục chuyển quyền sở hữu. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai đã có văn bản, đồng thời chuyển tài liệu cùng phương tiện đến Phòng Cảnh sát Giao thông Công an tỉnh Gia Lai tiến hành xử phạt vi phạm hành chính theo quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với xe mô tô LONCIN, biển kiểm soát 81B3 – 347.89, số máy: LC1P50FMG200222659, số khung: LWGXCGL06Y1092859, đây là tài sản hợp pháp của chị H’Niêm. Chiếc xe do chị H’Niêm mua lại của anh Võ Xuân Quý (Sinh năm 1990; trú tại thôn 1, xã An Phú, tỉnh Gia Lai), khi mua xe thì chị H’Niêm không làm thủ tục chuyển quyền sở hữu. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai đã có văn bản, đồng thời chuyển tài liệu cùng phương tiện đến Phòng Cảnh sát Giao thông Công an tỉnh Gia Lai tiến hành xử phạt vi phạm hành chính theo quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu NEW VMC, biển kiểm soát 51L6 – 1977, số máy: 360104010, số khung: 61000010, đây là tài sản hợp pháp của ông Khăi nên trả lại cho ông Khăi.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Các bị cáo H’Yun, H’Yêm, H’Khŭk, Klong, H’Kuinh, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tội danh: Tuyên bố các bị cáo H’Yun, H’Yêm, H’Khŭk, Klong, H’Kuinh phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”.

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 56 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo H’Yun.

Xử phạt bị cáo H’Yun 9 (Chín) tháng tù.

Tổng hợp hình phạt với bản án số: 10/2020/HSST ngày 13/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai xử phạt H’Yun 07 (Bảy) tháng tù. Hình phạt chung bị cáo phải chấp hành là: 07 (Bảy) tháng tù + 9 (Chín) tháng tù = 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điểm i, s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Klong.

Xử phạt bị cáo Klong 7 (Bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo H’Yêm, H’Khŭk và H’Kuinh.

Xử phạt bị cáo H’Yêm 9 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án.

Xử phạt bị cáo H’Khŭk 9 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án.

Xử phạt bị cáo H’Kuinh 9 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao các bị cáo H’Yêm, H’Khŭk, H’Kuinh cho Ủy ban nhân dân phường An Phú, tỉnh Gia Lai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm 2 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo H’Yun, H’Yêm, H’Khŭk, Klong, H’Kuinh.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 của bộ luật tố tụng hình sự, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự

Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu NEW VMC, biển kiểm soát 51L6 – 1977, số máy: 360104010, số khung: 61000010 cho ông Khăi.

(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao,nhận đồ vật, dữ liệu điện tử vào hồi 21 giờ 30 phút ngày 04/01/2025 giữa Công an xã Glar, huyện Đak Đoa “Nay là Công an xã Đak Đoa”, tỉnh Gia Lai với ông AYut).

5. Án phí: Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo H’Yun, H’Yêm, H’Khŭk, Klong, H’Kuinh mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghì đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

6. Thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án ( 11/9/2025 ), Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ