- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bàn Văn D - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bàn Văn D, phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGUYÊN BÌNH TỈNH CAO BẰNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2025/HS-ST Ngày: 11 - 4 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Lịch
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Diêu Văn An và Bà Hoàng Thị Lê
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2025. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 10/3/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HS ngày 28/3/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bàn Văn D; Tên gọi khác: Không có
Sinh ngày: 30/8/2003; Tại Q, N, Cao Bằng.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm T, xã Q, huyện N, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Không nghề; Trình độ học vấn: 10/12; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Dao; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông: Bàn Tuấn L; sinh năm 1977 và bà Bàn Thị T; sinh năm 1981; Bị cáo chưa có vợ con; có 02 chị em: Bị cáo là con thứ 2 trong gia đình;
Tiền án: Không; Tiền sự: Không
Về nhân thân: Bị cáo Bàn Văn D sinh ra và lớn lên tại xã Q, huyện N, tỉnh Cao Bằng, được bố mẹ cho ăn học đến lớp 10/12 thì bỏ học, không có việc làm ổn định, có 01 tiền án ngày 23/3/2022 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 10 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, đã được xóa án tích.
Hiện đang bị tạm giữ, tạm giam, tại Phân trại tạm giam khu vực Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng từ ngày 13 tháng 02 năm 2025 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Dạ Thảo; Trợ giúp viên pháp lý; Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Cao Bằng. Có mặt
- Bị hại: Anh Hoàng Văn H; sinh năm 1991
Trú tại: Xóm B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Có mặt
- Người Làm chứng:
Chị Lý Mùi K; sinh năm 1993
Trú tại: Xóm H, xã Q, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 40 phút, ngày 12 tháng 02 năm 2025, Hoàng Văn H (sinh năm 1991 trú tại xóm B, thị trấn Nguyên Bình, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng) trình báo Công an thị trấn Nguyên Bình, huyện Nguyên Bình về việc bị mất một chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu xanh, biển kiểm soát: 11B1-54693 để ở trên vỉa hè thuộc tổ dân phố 03, thị trấn Nguyên Bình. Sau khi tiếp nhận nguồn tin, Công an thị trấn Nguyên Bình đã truy xét và xác định được đối tượng Bàn Văn D; (sinh năm 2003, trú tại: xóm T, xã Q, huyện N, tỉnh Cao Bằng), đã thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe trên, nên đã ra lệnh bắt, giữ người khẩn cấp và tạm giữ xe.
Vật chứng thu giữ là 01 (một) chiếc xe mô tô đã qua sử dụng, nhãn hiệu HONDA WAVE màu xanh, biển kiểm soát: 11B1-54693; số khung: RLHJA3922NY004227; Số máy: JA39E-5200899, là tài sản của anh Hoàng Văn H mua lại với chị Lý Mùi K
Ngày 13/2/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nguyên Bình đã ra yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc xe mô tô trên. Tại kết luận số: 03/KL-HĐĐGTS ngày 14/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Nguyên Bình kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, biển kiểm soát 11B1-54693, thời điểm định giá tháng 2 năm 2025 có giá trị là: 13.300.000 đồng. (Bút lục số: 32; 45 đến 46)
Bản cáo trạng số: 16/CT-VKSNB ngày 10/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Bàn Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa Viện kiểm sát tranh luận: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội theo như kết luận điều tra và Cáo trạng, lời khai của bị cáo phù hợp với lới khai của bị hại, và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó đại diện Việm kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 và đề nghị cần thiết phải cách ly bị cáo ra khoûi ñôøi soáng xaõ hoäi một thời gian nhất định. Xét thái độ của bị cáo thành khẩn khái báo, ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 đề nghị xử phạt bị cáo Bàn Văn D từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không đề nghị HĐXX không xem xét.
- Về vật chứng thu giữ 01 (một) chiếc xe mô tô đã qua sử dụng, nhãn hiệu HONDAWAVE màu xanh, biển kiểm soát: 11B1-54693; số khung: RLHJA3922NY004227; Số máy: JA39E-5200899, đề nghị trả lại cho anh Hoàng Văn H là chủ sở hữu.
Về án phí: Bị cáo Bàn Văn D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị Dạ Thảo; Trợ giúp viên pháp lý trình bày lời bào chữa cho bị cáo, Với hành vi lén lút lấy xe máy của bị hại để tại vỉa hè khi chơi hội, bị cáo đã xâm phạm vào tội phạm về sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ, nên Trợ giúp viên pháp lý nhất trí với Cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Tuy nhiên xét về điều kiện hoàn cảnh phạm tội của bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo nhất thời phạm tội, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, hối hận với hành vi phạm tội của mình, bị hại có yêu cầu xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đề nghị HĐXX xem xét cho Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 “ Người phạm tội thành khẩn khai báo và đã ăn năn hối cải” và khoản 2 Điều 51 “ Người bị hại đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo”, Đề nghị xem xét giảm hình phạt cho Bị cáo được xử với mức thấp hơn của khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị là 6 tháng tù để tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sớm trở lại cộng đồng. Bị cáo có nơi cư trú ở vùng III vùng đặc biệt khó khăn xin cho bị cáo được miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối hận, bị cáo không có ý kiến tranh luận Lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Nguyên Bình, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến khiếu nại về hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện xác định đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, biên bản bắt người phạm tội, kết luận định gía tài sản với các tài liệu chứng cứ khác của vụ án đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Bàn Văn D đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE màu xanh, biển kiểm soát: 11B1-54693, có giá trị là 13.300.000,đ (Mười ba triệu ba trăm nghìn đồng), theo kết luận định giá trong tố tụng hình sự huyện Nguyên Bình ngày 14/ 02/2025, hành vi trên của bị cáo Bàn Văn D đã phạm vào tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, do đó Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, hành vi lén lút chiếm đoạt tài của người khác là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản được pháp luật bảo vệ hành vi của bị cáo D đã làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự an ninh của xã hội tại địa phương. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, nhưng bị cáo có nhân thân xấu, trong một khoảng thời gian ngắn khi bị cáo vừa chấp hành xong hình phạt tù của một bản án khác, trở về địa phương, bị cáo không lấy đó làm bài học mà bị cáo còn phạm tội mới với lỗi cố ý trực tiếp. Hội đồng xét xử nhận thấy cần thiết phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tính răn đe giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên trông qua trình điều tra và tại phiên Tòa bị cáo thành khẩn khai bao, ăn năm hối hận với hành vi phạm tội của mình, bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đó là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Thể hiện tính nhân đạo và chính sách khoan hồng của Nhà nước, Tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội để sửa chữa lỗi lầm, nên cần chấp nhận một phần yêu cầu đề nghị của người bào chữa cho bị cáo với mức xử phạt bị cáo với mức thấp hơn mức đại diện Viện kiểm sát nhưng cao hơn mức người bào chữa yêu cầu là có căn cứ.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra điều tra và tại phiên tòa bị cáo tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn, hối lỗi với hành vi phạm tội của mình, bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và ý kiến yêu cầu của người bào chữa cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự HĐXX xét thấy là có căn cứ nên cần được chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 bị cáo có thể bị phạt tiền từ 5.000.000,đồng đến 50.000.000,đồng. Tuy nhiên xét thấy bản thân bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập vì vậy HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo là có căn cứ.
. Về Trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu Bồi thường thiệt hại nên không đặt vấn đề xem xét.
Về vật chứng vụ án: 01 (một) chiếc xe mô tô đã qua sử dụng, nhãn hiệu HONDA WAVE màu xanh, biển kiểm soát: 11B1-54693; số khung: RLHJA3922NY004227; Số máy: JA39E-5200899, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là do anh Hoàng Văn H mua lại với chị Lý Mùi K đứng tên sở hữu nên cần trả lại cho anh Hiệu là có căn cứ và đúng quy định (Bút lục 18, bút lục 20, bút lục 125).
Về án phí: Bị cáo là người có nơi cư trú ở vùng III, nên áp dụng Nghị quyết 326 của quốc Hội, cho bị cáo được miễn án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Bàn Văn D, phạm tội "Trộm cắp tài sản".
2. Áp dụng pháp luật và hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
- Xử phạt: Bị cáo Bàn Văn D 12 (mười hai) tháng tù thời gian tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13 tháng 02 năm 2025.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
3. Về vật chứng của vụ án: Trả cho anh Hoàng Văn H; trú tại Xóm B, thị trấn Nguyên Bình, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng 01 (một) chiếc xe mô tô đã qua sử dụng, nhãn hiệu HONDA WAVE màu xanh, biển kiểm soát: 11B1-54693; số khung: RLHJA3922NY004227; Số máy: JA39E-5200899. Vật chứng hiện đang được quản lý tại kho Chi cục thi hành án dân sự huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 20 ngày 28/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự và cơ quan cảnh sát điều tra huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng).
4. Về trách nhiệm dân sự: Không
5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Bàn Văn D được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 bộ luật hình sự. Báo bị cáo, bị hại, biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh - VKSND huyện; - Chi cục THADS huyện; - Bị cáo; Bị hại - UBND xã Q - Phân trại tạm giam - Lưu HS; - Lưu AV. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Hoàng Thị Thu Lịch |