- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H’ K Niê.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – ĐẮK LẮK TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST Ngày 28-8-2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – ĐẮK LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Khanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Y Dhiểu Hmŏk và ông Nguyễn Văn Thức.
- Thư ký phiên tòa: Ông Y Sơ Mi Niê Kđăm – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 28/8/2025, tại Phòng xử án, Toà án nhân dân khu vực 8 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 100/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/7/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị H’ K Niê, sinh năm 2000 – vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Buôn T, xã E, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk (nay là Buôn T, xã E, tỉnh Đắk Lắk).
Bị đơn: Anh Y V Ktla, sinh năm 2000 – vắng mặt
Địa chỉ: Buôn D, phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk (nay là Buôn D, phường B, tỉnh Đắk Lắk).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị H’ K Niê trình bày có nội dung: Chị và anh Y V Ktla đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật trên cơ sở tự nguyện tại UBND xã Ea Blang, thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk) vào ngày 08/12/2012. Quá trình chung sống thì vợ chồng chị phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là giữa hai người không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi lộn nhau về các vấn đề trong sinh hoạt, cuộc sống hàng ngày nên tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nay chị nhận thấy không thể tiếp tục sống chung nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Y V Ktla.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng chị có 01 người con chung là cháu Y L Niê, sinh ngày 11/5/2022. Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên.
Về cấp dưỡng nuôi con, chị H’ K Niê không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ chung, chị H’ K Niê không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Y V Ktla đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến tham gia tố tụng, cũng không có ý kiến bằng văn bản nêu quan điểm của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Đắk Lắk phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H’ K Niê về quan hệ hôn nhân, về con chung, cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk là đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về trình tự thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị H’ K Niê có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Y V Ktla đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về yêu cầu của đương sự:
Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị H’ K Niê và anh Y V Ktla là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ, đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật trên cơ sở tự nguyện tại UBND xã , thị xã B, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk) vào ngày 08/12/2022. Quá trình chung sống hạnh phúc một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, do bất đồng quan điểm sống, tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Điều này phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương, hiện hai vợ chồng anh chị đã ly thân, bị đơn anh Y V Ktla đã về nhà mẹ đẻ ở Buôn D, phường B, tỉnh Đắk Lắk để sinh sống
Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị H’ K Niê và anh Y V Ktla có xảy ra mâu thuẫn, đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó việc giải quyết cho chị H’ K Niê ly hôn anh Y V Ktla là phù hợp với khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Quá trình chung sống, chị H’ K Niê và anh Y V Ktla có 01 người con chung là cháu Y L Niê, sinh ngày 11/5/2022. Khi ly hôn, chị H’ K Niê yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung cho đến khi đủ tuổi thành niên. Hội đồng xét xử thấy rằng, theo kết quả xác minh tại địa phương, thì cháu Y L Niê hiện đang ở với mẹ đẻ. Xét thấy, cháu Y L Niê, sinh ngày 11/5/2022 còn nhỏ, cần sự chăm sóc của người mẹ. Mặt khác, bị đơn anh Y V Ktla không có ý kiến phản đối yêu cầu của nguyên đơn. Hội đồng xét xử thấy rằng giao cho chị H’ K Niê được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Y L Niê, sinh ngày 11/5/2022 cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên là phù hợp Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H’ K Niê không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản: Chị H’ K Niê và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Xét quan điểm của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Đắk Lắk đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn chị H’ K Niê phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 144; Điều 147; khoản 1, 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H’ K Niê.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị H’ K Niê được ly hôn với anh Y V Ktla.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Y L Niê, sinh ngày 11/5/2022 cho chị H’ K Niê trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên.
Anh Y V Ktla có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H’ K Niê không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về tài sản chung và nợ chung: Chị H’ K Niê không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Nguyên đơn chị H’ K Niê phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004189 ngày 05/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk (nay Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8, tỉnh Đắk Lắk).
6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
7. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 của Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk; - VKSND khu vực 8, tỉnh Đắk Lắk; - Cơ quan THADS tỉnh Đắk Lắk; - UBND xã E; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; VP Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Văn Khanh |