- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án 12/2025/HNGĐ-ST giữa Nguyên đơn chị Quàng Thị M, ly hôn với bị đơn anh Hà Tiến T"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Quàng Thị M, xử cho chị Quàng Thị M được ly hôn với anh Hà Tiến T.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST Ngày 29-12-2025. V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hải.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hà Văn Sơ.
2. Bà Hoàng Thị Ngọc Ngân.
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4
- Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Như Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Sơn La xét xử công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 75/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2025 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXX - HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/QĐST-DS ngày 12 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Quàng Thị M, sinh năm 1997. Số định danh cá nhân: xxxxxxxxxxxx. Địa chỉ: Bản C, xã C, tỉnh Sơn La. Có mặt.
Bị đơn: Anh Hà Tiến T, sinh năm 1994. Số định danh cá nhân: xxxxxxxxxxxx. Địa chỉ: Bản C1, xã C, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/10/2025 cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trong quá trình xét xử, chị Quàng Thị M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Quàng Thị M và anh Hà Tiến T kết hôn vào năm 2015, trên cơ sở tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn và được UBND xã C, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La (nay là UBND xã C, tỉnh Sơn La) cấp giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi kết hôn, anh chị sống cùng gia đình anh T ở bản C1 , xã C, tỉnh Sơn La, vợ chồng anh chị sống chung hạnh phúc được khoảng 03 năm, đến năm 2018 thì anh T bỏ nhà ra đi, không quan tâm đến gia đình, vợ con, chị đã đi hỏi thăm và tìm kiếm nhưng anh T vẫn không có tin tức gì, đến năm 2024 do chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đã làm thủ tục Yêu cầu Tòa án tuyên bố anh T Mất tích để giải quyết việc ly hôn với anh T, tuy nhiên anh T lại trở về và Tòa án đã đình chỉ việc tuyên bố anh T mất tích, nhưng khi chị yêu cầu giải quyết ly hôn thì anh T lại tiếp tục trốn tránh, bỏ đi khỏi nơ cư trú, không thông báo cho chính quyền địa phương cũng như gia đình được biết, cố tình giấu địa chỉ để gây khó khăn cho việc giải quyết ly hôn với chị. Nay chị M đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Về con chung: Trong thời gian chung sống chị M và anh T có 01 con tên là cháu Hà Bảo N, sinh ngày 24/7/2017, hiện nay đang do chị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, nguyện vọng của chị sau khi ly hôn là tiếp tục được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu N cho đến khi các cháu trưởng thành, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị M cam kết không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Đối với Bị đơn anh Hà Tiến T: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà nhưng anh T không có mặt tại địa phương, không rõ đi đâu địa chỉ mới hiện nay ở đâu, vì vậy Tòa án đã tiến hành lập biên bản về việc không thực hiện được việc cấp tống đạt, thông báo theo quy định tại khoản 5 Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự, và niêm yết các loại văn bản trên đảm bảo theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì anh T không đến Tòa án giải quyết vụ án cũng không gửi văn bản nêu ý kiến của mình cho Tòa án theo quy định nên Tòa án không thể nắm bắt được nguyện vọng của anh về việc chị M xin ly hôn, người trực tiếp nuôi con và các vấn đề khác, do đó vụ án không tiến hành hòa giải được. Anh T đã từ chối quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng, do vậy Tòa án căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và yêu cầu của chị M để giải quyết vụ án theo quy định.
Qua xác minh, ông Vì Văn H – Trưởng bản của bản C1, xã C, tỉnh Sơn La cho biết:
Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng chị Quàng Thị M và anh Hà Tiến T kết hôn với nhau từ năm 2015, việc kết hôn là đúng quy định của pháp luật được UBND xã C, sỉnh Sơn La cấp giấy chứng nhận kết hôn, sau khi thành hôn vợ chồng anh chị sinh sống với nhau cùng gia đình bố mẹ đẻ anh T tại bản C1, xã C, tỉnh Sơn La. Đến năm 2018 anh T bỏ đi khỏi nơi cư trú, không thông báo với chính quyền địa phương, bỏ mặc gia đình vợ con, từ đó chị M đã bế con bỏ về nhà bố mẹ đẻ của chị M ở Bản C, xã C, tỉnh Sơn La để sinh sống. Đến năm 2024 thì thấy anh T về địa phương được một thời gian ngắn nhưng sau đó lại bỏ đi nơi khác, không thông báo với chính quyền địa phương địa chỉ nơi cư trú mới, cố tình gây khó khăn cho chị M khi giải quyết ly hôn.
Về con chung: Anh T và chị M có 01 con chung là cháu Hà Bảo N, từ khi chị M và anh T ly thân đến nay cháu N đang do chị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về tài sản chung: Chị M và anh T không có tài sản chung, sống phụ thuộc gia đình nhà anh T, hiện nay gia đình anh T cũng đã đi sinh sống nơi khác, không cung cấp thông tin cho chính quyền địa phương được biết.
Về nợ chung của vợ chồng chị M, anh T không nắm được.
Đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh T để đảm bảo quyền lợi cho chị M.
Đại diện Viện kiểm sát Phát biểu việc tuân theo pháp luật và trình bày quan điểm giải quyết vụ án:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thư ký: Từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần như trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa sơ thẩm diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay nguyên đơn, đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh Hà Tiến T đã được tống đạt hợp lệ các thủ tục theo quy định của pháp luật, tuy nhiên không đến Tòa án để giải quyết vụ án, không gửi văn bản nêu ý kiến của mình cho Tòa án theo quy định, nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quan điểm về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, khoản 1, 2 Điều 81; Điều 82, Điều 83 Luật HNGĐ năm 2014;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị HĐXX tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Quàng Thị M, xử cho chị được ly hôn với anh Hà Tiến T.
- Về con chung: Đề nghị HĐXX giao các cháu Hà Bảo N, sinh ngày 24/7/2017 cho chị Quàng Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Hà Tiến T chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Miễn toàn bộ án phí cho chị Quàng Thị M.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Quàng Thị M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hà Tiến T, xét thấy là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn anh Hà Tiến T cư trú tại bản C1 2, xã C, tỉnh Sơn La nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Sơn La, theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của bị đơn: Tại phiên tòa vắng mặt bị đơn anh Hà Tiến T, do anh T đã đi khỏi nơi cư trú, không thông báo cho gia đình, chính quyền địa phương địa chỉ cư trú mới, cố tình giấu địa chỉ của mình nên Tòa án đã thực hiện các thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định nhưng anh T vẫn không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án, cũng không gửi văn bản nêu ý kiến của mình nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Ngày 15/10/2015 chị Quàng Thị M và anh Hà Tiến T tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La (Nay là UBND xã C, tỉnh Sơn La), do đó quan hệ hôn nhân giữa chị M và anh T là hợp pháp theo quy định của pháp luật. Anh chị sống chung với nhau được thời gian ngắn, đến năm 2018 anh T bỏ đi khỏi địa phương, không quan tâm gì đến cuộc sống vợ chồng cũng như chăm sóc con cái, anh chị đã sống ly thân từ đó đến năm 2024 do xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị M đã làm thủ tục yêu cầu Tòa án tuyên bố anh T mất tích để làm căn cứ giải quyết ly hôn với anh T, tuy nhiên anh T trở về địa phương nên Tòa án đã đình chỉ việc tuyên bố anh T mất tích, nhưng khi khi chị M làm thủ tục ly hôn thì anh T lại bỏ đi khỏi nơi cư trú, không thông báo cho gia đình và chính quyền địa phương, cố tình giấu địa chỉ cư trú mới, gây khó khăn cho việc giải quyết ly hôn tại Tòa án của chị M. Hiện nay Chị M cương quyết xin ly hôn với anh T. HĐXX nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng chị M anh T đã trở nên trầm trọng, cuộc sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy cần xử cho chị M được ly hôn với anh Hà Tiến T, theo quy định khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Quàng Thị M và anh Hà Tiến T có 01 con chung là cháu Hà Bảo N, sinh ngày 24/7/2017, Nguyện vọng của cháu là được chị M tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục để được thuận tiện cho việc sinh sống, học tập của cháu, nên HĐXX xét thấy cần giao cháu N cho chị Quàng Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi, là phù hợp và đảm bảo cho sự phát triển về thể chất và tinh thần cũng như thuận lợi cho việc sinh sống và học tập cho cháu. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn không ai được cản trở.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị Quàng Thị M là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên được miễn toàn bộ án phí ly hôn theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, khoản 1, 2 Điều 81; Điều 82, Điều 83 Luật HNGĐ năm 2014; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Quàng Thị M, xử cho chị Quàng Thị M được ly hôn với anh Hà Tiến T.
2. Về con chung: Giao cháu Hà Bảo N, sinh ngày 24/7/2017 cho chị Quàng Thị M trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi, hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Hà Tiến T chưa phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về án phí: Miễn án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm cho chị Quàng Thị M. Chị M được trả lại 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000526 ngày 22/10/2025 tại Thi hành án Dân sự tỉnh Sơn La.
6. Về quyền kháng cáo: Chị Quàng Thị M có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; anh Hà Tiến T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND Khu vực 4 - Sơn La; - Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La; - UBND xã C, tỉnh sơn La; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Hoàng Văn Hải |