vanban.org

Bản án 12/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Neàng Chanh T1.

Về hôn nhân: bà Neàng Chanh T1 được ly hôn với ông Nguyễn Thanh T. Về nuôi con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Neàng Chanh T1.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TỊNH BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27-02-2025
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình ly hôn và nuôi con khi ly
hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: bà Võ Thị Ngọc Mỹ.

- Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Thanh Hoàng; ông Nguyễn Lâm Tới.

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mỹ Tiên, là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: bà Neàng Sa Men, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 369/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2024 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Neàng Chanh T1, sinh năm 1987; nơi cư trú: tổ F, ấp A, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang;

- Bị đơn: ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1980; nơi cư trú: tổ F, ấp A, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang.

Tại phiên toà, nguyên đơn bà Neàng Chanh T1 có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn ông Nguyễn Thanh T vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Neàng Chanh T1 trình bày: bà và ông T tự tìm hiểu, yêu thương nhau nên bà Neàng Chanh T1 và ông Nguyễn Thanh T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T (nay là thị xã T), tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận số 31/2006, ngày 18/04/2006. Sau khi kết hôn thì bà Neàng Chanh T1 và ông Nguyễn Thanh T chung sống tại tổ F, ấp A, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang. Khoảng năm 2024 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn thường xuyên cãi vã, do ông T thường xuyên nhậu nhẹt không quan tâm đến vợ con nên vợ chồng đã sống ly thân từ lúc đó cho đến nay. Nay thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà Neàng Chanh T1 yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Thanh T.

Bà Neàng Chanh T1 và ông Nguyễn Thanh T có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Thanh T2, sinh ngày 25/01/2006 và Nguyễn Neàng Tâm N, sinh ngày 02/8/2008. Hiện cháu Nguyễn Thanh T2, đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi ly hôn, bà Neàng Chanh T1 yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Neàng Tâm N, sinh ngày 02/8/2008; không yêu cầu ông Nguyễn Thanh T cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện bao gồm: Căn cước công dân cấp cho bà Neàng Chanh T1 (bản photo); Giấy khai sinh cấp cho Nguyễn Thanh T2 và Nguyễn Neàng Tâm N (bản sao); Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính); Bản tự khai (bản chính).

- Bị đơn ông Nguyễn Thanh T: Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

* Cháu Nguyễn Neàng Tâm N có ý kiến: có nguyện vọng được sống chung với bà N1 Chanh Thia nếu cha, mẹ ly hôn.

Tại phiên tòa,

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Việc tuân theo pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

- Về thẩm quyền: Nguyên đơn bà Neàng Chanh T1 khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Thanh T, có nơi cư trú tại tổ F, ấp A, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về sự vắng mặt của đương sự: bà Neàng Chanh T1 có đơn xin xét xử vắng mặt; ông Nguyễn Thanh T đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, không lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: bà Neàng Chanh T1 và ông Nguyễn Thanh T chung sống với nhau từ năm 2005, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 32, ngày 30/6/2006 do Ủy ban nhân dân xã A, huyện T (nay là thị xã T), tỉnh An Giang nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.”

Xét, vợ chồng phải thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau nhưng bà N1 Chanh Thia và ông Nguyễn Thanh T đã không còn sống chung và không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Từ đó, cho thấy mâu thuẫn gia đình đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông T, nhưng ông T không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của bà T1. Do đó, nguyên đơn khởi kiện xin ly hôn với bị đơn là có căn cứ chấp nhận, phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: bà Neàng Chanh T1 xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Thanh T2, sinh ngày 25/01/2006 và Nguyễn Neàng Tâm N, sinh ngày 02/8/2008. Cháu Nguyễn Thanh T2 đã trưởng thành nên không xem xét; đối với cháu Nguyễn Neàng Tâm N, sinh ngày 02/8/2008 hiện đang sống cùng với bà T1, cháu N có nguyện vọng được sống với mẹ. Do đó, tiếp tục giao cho bà T1 nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng và phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: bà Neàng Chanh T1 không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: bà Neàng Chanh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét trong vụ án.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo luật định; bị đơn không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 144, 147, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Neàng Chanh T1.

1. Về hôn nhân: bà Neàng Chanh T1 được ly hôn với ông Nguyễn Thanh T.

2. Về nuôi con chung:

2.1. cháu Nguyễn Thanh T2, sinh ngày 10/8/2004, đã trưởng thành.

2.2. Giao cho bà N1 Chanh Thia được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Neàng Tâm N, sinh ngày 02/8/2008; ông Nguyễn Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Neàng Chanh T1 cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Nguyễn Thanh T quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

3. Về án phí sơ thẩm: bà Neàng Chanh T1 phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0017516 ngày 02 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên, bà Neàng Chanh T1 đã nộp đủ án phí; ông Nguyễn Thanh T không phải chịu án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo vắng mặt trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ