vanban.org

Bản án 12/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Đức Q.

Về con chung: Quá trình chung sống bà T và ông Q có 02 con chung là Nguyễn Đình V, sinh ngày 25/4/2014 và Nguyễn Hoàng M, sinh ngày 11/10/2016. Khi ly hôn, giao cho bà T được nuôi cháu M và giao cho ông Q nuôi dưỡng cháu V, tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con do không có yêu cầu. Bà T và ông Q… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà T ông Q ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Đức Q.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 10-7-2025
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOØA AÙN NHAÂN DAÂN KHU VỰC 1 - ÑOÀNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Chánh – Cán bộ hưu trí.

2. Bà Thiều Thị Phi Loan – Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Hoài Anh Tuyển – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đồng Nai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đông – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 242/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 174/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 305/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1983

Địa chỉ: Tổ 53, khu phố 4B, phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Đức Q, sinh năm 1984

Địa chỉ: Tổ 53, khu phố 4B, phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai.

(Bà Thuận có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Q vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ - Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Đức Q tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2011, tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Cuộc sống vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống quá nhiều. Bà Thuận nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Đức Q.

- Về con chung: Quá trình chung sống bà T và ông Q có 02 con chung là Nguyễn Đình V, sinh ngày 25/4/2014 và Nguyễn Hoàng M, sinh ngày 11/10/2016. Khi ly hôn, bà T xin được nuôi cháu M và xin giao cho ông Q nuôi dưỡng cháu V, tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà T và ông Q tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có nên yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Ông Nguyễn Đức Q đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhƣng vắng mặt nên không ghi nhận đƣợc ý kiến.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa:

Về việc kiểm sát chấp hành pháp luật tố tụng: Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự và thẩm quyền giải quyết, Tòa án đã xác định đúng theo quy định pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn chấp hành không đúng. Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật.

Về giải quyết tranh chấp:

- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Đức Q.

- Về con chung: Quá trình chung sống bà T và ông Q có 02 con chung là Nguyễn Đình V, sinh ngày 25/4/2014 và Nguyễn Hoàng M, sinh ngày 11/10/2016. Khi ly hôn, giao cho bà T được nuôi cháu M và giao cho ông Q nuôi dưỡng cháu V, tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con do không có ai yêu cầu.

- Về tài sản chung và nợ chung: Theo bà T khai, bà và ông Q tự thỏa thuận về tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nhưng do Tòa án chưa ghi nhận được ý kiến của ông Q về tài sản chung và nợ chung nên sẽ giải quyết bằng một vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.

- Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

- Bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Đức Q; Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn”. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định bà Thuận là nguyên đơn, ông Q là bị đơn trong vụ án.

- Theo Biên bản xác minh ngày 27/3/2025 tại Công an phường T thì có căn cứ để xác định: Hiện nay, ông Nguyễn Đức Q đang cư trú tại địa chỉ: Tổ 53, khu phố 4B, phường T, thành phố B (nay là phường T), tỉnh Đồng Nai. Do đó, căn cứ các Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đồng Nai.

- Ngày 17/6/2025, bà Nguyễn Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Đồng Nai cũng đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn là ông Nguyễn Đức Q để tham gia phiên tòa theo quy định của pháp luật nhưng ông Q vắng mặt không có lý do. Vì vậy, theo quy định tại khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Đức Q tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2011, tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Do đó, cần áp dụng các quy định tại Điều 9, 11 và 12 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Bà Thuận và ông Q chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống quá nhiều, đã nhiều lần cố gắng hàn gắn nhưng không thể, đến nay mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể kéo dài. Xét yêu cầu ly hôn của bà Thuận là có cơ sở chấp nhận, bởi lẽ theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, Q trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau để cùng xây dựng gia đình hạnh phúc. Theo biên bản xác minh ngày 27/3/2025 tại Ủy ban nhân dân phường T thể hiện về mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Thuận và ông Q thì địa phương không rõ do các đương sự không trình báo. Tuy nhiên, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Q để hòa giải đoàn tụ nhưng ông Q đều vắng mặt không lý do, không có động thái tích cực để hàn gắn hạnh phúc vợ chồng. Như vậy, thể hiện việc mâu thuẫn trong tình cảm giữa bà Thuận và ông Q là có thật, vợ chồng không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Tòa án căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận cho bà Thuận được ly hôn với ông Q.

Về con chung: Quá trình chung sống bà T và ông Q có 02 con chung là Nguyễn Đình V, sinh ngày 25/4/2014 và Nguyễn Hoàng M, sinh ngày 11/10/2016. Khi ly hôn, bà T xin được nuôi cháu M và xin giao cho ông Q nuôi dưỡng cháu V, tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay, cháu M đang sinh sống cùng bà T và có ý kiến xin được ở với mẹ, cháu là con gái nên cần có sự chăm sóc của người mẹ nhiều hơn. Cháu V là con trai và cháu cũng đều có ý kiến xin ở với bố nên giao các cháu cho ông Q nuôi dưỡng là phù hợp. Ngoài ra, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông Q thể hiện yêu cầu này của bà T nhưng ông Q không có ý kiến phản đối. Do đó, để ổn định về việc học tập và sinh hoạt, cũng như sự phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần cho các cháu, Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà T, giao cháu M cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cho ông Q nuôi dưỡng cháu V, tạm thời không ai phải cấp dưỡng do không có yêu cầu.

Bà T và ông Q được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Theo bà Thuận khai, bà và ông Q tự thỏa thuận về tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nhưng do Tòa án chưa ghi nhận được ý kiến của ông Q về tài sản chung và nợ chung nên sẽ giải quyết bằng một vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.

Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Lời phát biểu của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 9, 11 và 12 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 55, 57, 58, 59, 81, 82, 83, 84 và 131 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Đức Q.

Về con chung: Quá trình chung sống bà T và ông Q có 02 con chung là Nguyễn Đình V, sinh ngày 25/4/2014 và Nguyễn Hoàng M, sinh ngày 11/10/2016. Khi ly hôn, giao cho bà T được nuôi cháu M và giao cho ông Q nuôi dưỡng cháu V, tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con do không có yêu cầu.

Bà T và ông Q được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Theo bà T khai, bà và ông Q tự thỏa thuận về tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nhưng do Tòa án chưa ghi nhận được ý kiến của ông Q về tài sản chung và nợ chung nên sẽ giải quyết bằng một vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.

Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0005495 ngày 10/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Bà Nguyễn Thị T đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Đức Q có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ bản án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ