vanban.org

Bản án 12/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị Hồng N.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Hồng N được ly hôn với ông Lý Văn B. 2. Về con chung: Bà Trần Thị Hồng N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Lý Trần Kiều V, sinh ngày 13 tháng 02 năm 2009; ông Lý Văn B được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Lý Trần Hoài N1, sinh ngày 28 tháng 8 nă… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị Hồng N.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHỤNG HIỆP
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24 - 01 - 2025
V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Hữu Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Công Điện;

Ông Nguyễn Văn Dương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Cẩm Giang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 746/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2024, về tranh chấp ly hôn và nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 255/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2024, và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Trần Thị Hồng N, sinh năm 1989

ĐKTT: Thôn P, xã Đ, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi cư trú hiện nay: Xóm D, thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Lý Văn B, sinh năm 1982; địa chỉ: ấp L, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện xin ly hôn, nguyên đơn là bà Trần Thị Hồng N trình bày:

Nguyên đơn và bị đơn là ông Lý Văn B tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2019, có đăng ký kết hôn.

Quá trình chung sống, do bất đồng quan điểm nên vợ chồng vợ chồng đã sống ly thân từ khoảng năm 2016 cho đến nay.

Về con chung: Có 02 con chung là: Lý Trần Kiều V, sinh ngày 13 tháng 02 năm 2009; Lý Trần Hoài N1, sinh ngày 28 tháng 8 năm 2014. Hiện cháu V do nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, cháu N1 do bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bị đơn là ông Lý Văn B; yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Lý Trần Kiều V, đồng ý giao cháu Lý Trần Hoài N1 cho bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn là ông Lý Văn B vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng nên không có lời trình bày.

- Tại văn bản được Công an xã Đ, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xác nhận ngày 16 tháng 11 năm 2024, cháu Lý Trần Kiều V trình bày nguyện vọng muốn sống chung với nguyên đơn nếu nguyên đơn và bị đơn ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt; nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Xuất phát từ mâu thuẫn vợ chồng, các đương sư đã sống ly thân từ khoảng năm 2016 cho đến nay. Thời gian sống ly thân đã lâu, nhưng các đương sự không gặp gỡ để bàn biện pháp hàn gắn quan hệ hôn nhân; bỏ mặc vợ, chồng để sống ly thân; không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Quá trình giải quyết vụ án, phía bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt để trình bày ý kiến có mong muốn đoàn tụ hay không. Từ đó cũng đủ thấy hôn nhân giữa các đương sự đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn.

Về con chung: Xét các con chung của các đương sự là Lý Trần Kiều V đã được nguyên đơn nuôi dưỡng ổn định, Lý Trần Hoài N1 đã được bị đơn nuôi dưỡng ổn định từ lúc các đương sự ly thân đến nay, cuộc sống đã ổn định nên không cần thiết phải xáo trộn, đồng thời nguyên đơn và bị đơn mỗi người trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung nên việc nguyên đơn yêu cầu không ai phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn về việc trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Lý Trần Kiều V, đồng ý giao con chung là cháu Lý Trần Hoài N1 và không ai phải cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản: Nguyên đơn xác định các đương sự không có tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết; bị đơn không có mặt để xác định có tài sản chung, nợ chung hay không, có yêu cầu Tòa án giải quyết hay không. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, mà ghi nhận cho các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn bằng vụ kiện khác nếu có tài sản chung và nợ chung.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị Hồng N.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Hồng N được ly hôn với ông Lý Văn B.

1.2. Về con chung: Bà Trần Thị Hồng N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Lý Trần Kiều V, sinh ngày 13 tháng 02 năm 2009; ông Lý Văn B được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Lý Trần Hoài N1, sinh ngày 28 tháng 8 năm 2014; không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Bà Trần Thị Hồng N, ông Lý Văn B cùng các thành viên trong gia đình bà N và ông B không được cản trở bà Trần Thị Hồng N và ông Lý Văn B trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.

1.3. Về tài sản chung: Không yêu cầu, không xem xét.

2. Về án phí: Bà Trần Thị Hồng N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007478 ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang thành án phí, không ai phải nộp thêm.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ