vanban.org

Bản án 12/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 - Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Phương N được ly hôn anh Nguyễn Văn G. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hữu T, sinh ngày 19/4/2019 cho chị Nguyễn Thị Phương N trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 08/08/2017 cho anh Nguyễn Văn G tiếp tục nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng chị Nguyễn T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ngân - giang"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 - Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HIỆP HÒA
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST
Ngày 28/3/2025
V/v “Tranh chấp Ly hôn, con
chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sự Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Xuân Hoàng

Ông Lê Văn Đô

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Quyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện VKSND huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đình Ư - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 283/2024/TLST

- HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17/02/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13/3/2025 giữa các đương sự;

-Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Phương N, sinh năm 1995 (có mặt)

Nơi cư trú: Thôn B, xã H (nay là xã H), huyện H, tỉnh Bắc Giang

-Bị đơn: Anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1993 ( vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn B, xã H (nay là xã H), huyện H, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Phương N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh G vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H (nay là xã H), huyện H, tỉnh Bắc Giang, kết hôn tự nguyện, có tìm hiểu nhau trước khi kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị về chung sống với nhau ngay và chung sống với gia đình nhà chồng khoảng 5 năm, sau đó thì về nhà bố mẹ chị sinh sống. Trong quá trình chung sống thì cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2018 dẫn đến mâu thuẫn, nguyên nhân do mỗi lần hai vợ chồng cãi nhau thì anh G đánh đập chị vài lần, đến nguy cơ sẩy thai thì không đánh chị nữa. Khi mâu thuẫn thì hai vợ chồng tự giải quyết nhưng không thành. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2024, còn anh G thì về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Trong thời gian sống ly thân thì anh G có gọi về đoàn tụ, nhưng chị không về. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, xin được ly hôn anh G.

- Về con chung: Chị xác định có 02 con chung là cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 08/08/2017 và cháu Nguyễn Hữu T, sinh ngày 19/4/2019. Hiện nay hai con chung đang ở với anh G, anh G không cho chị đón con và thăm con. Khi ly hôn thì chị xin được nuôi cháu T, còn anh G nuôi cháu K. Vấn đề cấp dưỡng chị không yêu cầu giải quyết.

Hiện nay chị đang làm công nhân, thu nhập trung bình 9.000.000 đồng/ tháng, thời gian làm theo ca, chị đảm bảo có điều kiện về thời gian chăm sóc và kinh tế để nuôi con.

- Về tài sản chung, quyền và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị xác định không có, không yêu cầu xem xét, giải quyết.

Tại phiên tòa chị N có mặt, giữ nguyên yêu cầu của mình.

*Bị đơn anh Nguyễn Văn G được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng không đến Tòa án làm việc và từ bỏ quyền lợi của mình.

Tại phiên toà anh G vắng mặt.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án.

- Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Điều 147; điểm b khoản 2 -Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Phương N được ly hôn anh Nguyễn Văn G.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hữu T, sinh ngày 19/4/2019 cho chị Nguyễn Thị Phương N trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 08/08/2017 cho anh Nguyễn Văn G tiếp tục nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng chị Nguyễn Thị Phương N không yêu cầu nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

3. Về công nợ, tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Phương N không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Phương N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0004292 ngày 07/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Nguyễn Thị Phương N đã nộp đủ. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Ngày 07 tháng 11 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Phương N xin ly hôn anh Nguyễn Văn G có nơi cư trú tại địa bàn huyện H, tỉnh Bắc Giang là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Phương N xin ly hôn anh Nguyễn Văn G xác lập quan hệ hôn nhân là tự nguyện, hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật hôn nhân và gia đình, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H (nay là xã H), huyện H năm 2017, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng là hôn nhân hợp pháp (Theo Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình). Qua xác minh tại địa phương, gia đình và căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử, xét thấy chị N và anh G sau khi về chung sống thì thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn cho đến nay, nguyên nhân do anh G mỗi lần cãi nhau thì có đánh chị N dẫn đến tình cảm vợ chồng dạn nứt. Qua xác minh tại địa phương cũng như gia đình thì khi xẩy ra mâu thuẫn đã được vợ chồng tự hòa giải nhưng không thành. Hiện nay chị N đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2024 cho đến nay, hai bên không còn quan tâm đến với nhau. Bản thân anh G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng không lên Tòa án làm việc. Như vậy, xét thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung của chị N và anh G không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị N và anh G có 02 con chung là cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 08/08/2017 và cháu Nguyễn Hữu T, sinh ngày 19/4/2019. Từ khi chị N về nhà bố mẹ đẻ sinh sống thì hai con chung đang ở với anh G. Khi ly hôn, thì chị N có nguyện vọng được nuôi cháu Nguyễn Hữu T, sinh ngày 19/4/2019, còn anh G nuôi cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 08/08/2017. Xét về điều kiện thời gian chăm sóc, kinh tế, nguyện vọng của con chung đủ 7 tuổi cháu Nguyễn Đăng K xin ở với bố. Để hai bên đều có trách nhiệm nuôi dưỡng con chung, thì cần giao cháu Nguyễn Hữu T, sinh ngày 19/4/2019 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 08/08/2017 cho anh G tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị N xác định không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0004292 ngày 07/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị N đã nộp đủ..

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 - Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; điểm b khoản 2 -Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Điểm a khoản 5 - Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Phương N được ly hôn anh Nguyễn Văn G.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hữu T, sinh ngày 19/4/2019 cho chị Nguyễn Thị Phương N trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 08/08/2017 cho anh Nguyễn Văn G tiếp tục nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng chị Nguyễn Thị Phương N không yêu cầu nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

3. Về công nợ, tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Phương N không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Phương N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0004292 ngày 07/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Nguyễn Thị Phương N đã nộp đủ.

5. Về quyền kháng cáo:

-Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

-Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.

6.Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ