vanban.org

Bản án 12/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do mâu thuẫn về kinh tế

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Thạch Thị Thanh T và anh Huỳnh Văn A.

Về con chung, nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: 1. Giao cháu Huỳnh Văn T1, sinh ngày 21 tháng 11 năm 2019 cho chị Thạch Thị Thanh T được trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận ý kiến của chị Thạch Thị Thanh T không yêu cầu anh Huỳnh Văn A cấp dưỡng cho cháu Huỳnh Văn T1. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do mâu thuẫn về kinh tế — án hôn nhân và gia đình — "“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con” giữa chị Thạch Thị Thanh T và anh Huỳnh Văn A"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Thạch Thị Thanh T và anh Huỳnh Văn A.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 188 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - VĨNH LONG
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 17 - 7 - 2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con và
nghĩa vụ cấp dưỡng cho con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Minh Tân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Bé Hai.

2. Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Vĩnh Long: Không tham gia.

Ngày 17 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Vĩnh Long tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 128/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 81/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Thạch Thị Thanh T, sinh năm 1997 (Có mặt).

Địa chỉ đăng ký thường trú: Ấp Đ, phường C, tỉnh Vĩnh Long.

Địa chỉ nơi ở hiện nay: Ấp C, xã T, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn A, sinh năm 1986 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Đ, phường C, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 13 tháng 3 năm 2025 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Thạch Thị Thanh T trình bày:

- Về hôn nhân: Qua mai mối, được sự đồng ý của gia đình, chị và anh Huỳnh Văn A tổ chức lễ cưới ngày 30/4/2012, đăng ký kết hôn ngày 10/8/2016 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (Nay là Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Vĩnh Long). Thời gian vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng hơn 12 năm, đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh A gia trưởng, tự quyết định mọi việc trong gia đình, hàng ngày chỉ đưa cho chị 100.000 đồng không đủ chi tiêu các khoảng chi phí sinh hoạt của gia đình, trong khi cha mẹ chồng luôn khắc khe với chị; mỗi khi chị góp ý thì anh A lớn tiếng cự cải và dùng lời lẽ hăm dọa đánh, giết chị. Sự việc diễn ra trong thời gian dài, anh A vẫn không cải sửa, vợ chồng không thể hàn gắn tình cảm dẫn đến mất hạnh phúc. Nên chị và anh A sống ly thân từ tháng 02/2025 đến nay không trở về đoàn tụ. Sau thời gian sống ly thân, nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị yêu cầu được ly hôn với anh A.

- Về con chung, nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Chị và anh A có với nhau 02 người con chung tên Huỳnh Văn K, sinh ngày 16/11/2014 hiện anh A đang nuôi dưỡng và cháu Huỳnh Văn T1, sinh ngày 21/11/2019 hiện chị đang nuôi dưỡng. Trước đây tại đơn khởi kiện, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K và cháu T1, yêu cầu anh A cấp dưỡng hàng tháng cho mỗi cháu số tiền 2.000.000 đồng. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, cháu K có văn bản thay đổi ý kiến trình bày cháu có nguyện vọng được sống với anh A. Nên chị rút lại một phần khởi kiện, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1, không yêu cầu anh A cấp dưỡng cho cháu T1; đồng ý giao cháu K cho anh A được trực tiếp nuôi dưỡng theo nguyện vọng của cháu K, chị không cấp dưỡng cho cháu K.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm:

Anh Huỳnh Văn A đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng đều vắng mặt tại các phiên họp, không giao nộp văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị T; không giao nộp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án. Tại phiên tòa sơ thẩm, anh A đã được triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai vắng mặt không có lý do chính đáng vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào khoản 1 và khoản 5 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xác định đây là yêu cầu về ly hôn, tranh chấp về nuôi con và cấp dưỡng cho con, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 2 - Vĩnh Long.

Về việc rút lại một phần yêu cầu khởi kiện và phạm vi xét xử: Căn cứ vào Điều 5, khoản 1 Điều 188, khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự. Xét thấy:

Tại phiên tòa sơ thẩm, chị T rút lại yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu K, rút lại yêu cầu anh A cấp dưỡng cho cháu T1 là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện đã rút.

Ngoài yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con như nhận định giải quyết tại các mốc đơn [1], [2] “Về nội dung” và yêu cầu cấp dưỡng cho con đã rút như nhận định giải quyết tại đoạn [2.1] “Về tố tụng” thì anh A không có yêu cầu chị T cấp dưỡng cho cháu K, các đương sự không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng nên Tòa án không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

Về thủ tục xét xử: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh A theo thủ tục chung.

- Về nội dung:

Về hôn nhân: Chị T và anh A là vợ chồng hợp pháp, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Xét nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng mất hạnh phúc là do anh A gia trưởng, không tôn trọng, quan tâm, chăm sóc vợ con, là vi phạm nghiêm trọng tình nghĩa - nghĩa vụ vợ chồng. Chị T và anh A có thời gian sống ly thân từ tháng 02/2025 đến nay không trở về đoàn tụ. Tại phiên tòa sơ thẩm, chị T xác định không còn tình cảm vợ chồng, không muốn tiếp tục chung sống với anh A. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh A không có văn bản trình bày ý kiến phản đối hoặc đề nghị giải quyết khác đối với yêu cầu ly hôn của chị T. Căn cứ vào lời trình bày của chị T và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết luận hôn nhân giữa chị T và anh A đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án giải quyết cho ly hôn giữa chị T và anh A.

Về con chung, nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Xét cháu K đã trên 10 tuổi, hiện anh A đang nuôi dưỡng, cháu K có nguyện vọng muốn được sống chung với anh A. Cháu T1 đã trên 05 tuổi hiện, do chị T đang nuôi dưỡng. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh A không có văn bản trình bày ý kiến phản đối hoặc đề nghị giải quyết gì khác đối với yêu cầu của chị T. Căn cứ vào nguyện vọng của cháu K; để ổn định môi trường sống, học tập, quyền lợi về mọi mặt của cháu K, cháu T1. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án giải quyết:

Giao cháu T1 cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận ý kiến của chị T không yêu cầu anh A cấp dưỡng cho cháu T1.

Giao cháu K cho anh A được trực tiếp nuôi dưỡng. Dành cho anh A và chị T một vụ kiện dân sự khác nếu có tranh chấp với nhau về nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu K.

Chị T, anh A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Từ những phân tích và điều luật viện dẫn áp dụng tại các mốc đơn [1], [2], [3] “Về tố tụng” và các mốc đơn [1], [2] “Về nội dung”, Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T giải quyết theo hướng đã nhận định như trên.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, kèm theo danh mục án phí, lệ phí Toà án, Tòa án giải quyết chị T phải chịu án phí giải quyết ly hôn số tiền 300.000 đồng và được khấu trừ xong vào trong số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 5, khoản 1 và khoản 5 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 188, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, kèm theo danh mục án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Thạch Thị Thanh T và anh Huỳnh Văn A.

2. Về con chung, nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con:

2.1. Giao cháu Huỳnh Văn T1, sinh ngày 21 tháng 11 năm 2019 cho chị Thạch Thị Thanh T được trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận ý kiến của chị Thạch Thị Thanh T không yêu cầu anh Huỳnh Văn A cấp dưỡng cho cháu Huỳnh Văn T1.

2.2. Giao cháu Huỳnh Văn K, sinh ngày 16 tháng 11 năm 2014 cho anh Huỳnh Văn A được trực tiếp nuôi dưỡng. Dành cho anh Huỳnh Văn A và chị Thạch Thị Thanh T một vụ kiện dân sự khác nếu có tranh chấp với nhau về nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Huỳnh Văn K.

2.3. Chị Thạch Thị Thanh T, anh Huỳnh Văn A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

2.4. Đình chỉ xét xử một phần khởi kiện của chị Thạch Thị Thanh T yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Huỳnh Văn K, yêu cầu anh Huỳnh Văn A cấp dưỡng cho cháu Huỳnh Văn K hàng tháng số tiền 2.000.000 (Hai triệu) đồng cho đến khi cháu K đủ 18 (Mười tám) tuổi đã rút.

3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Thạch Thị Thanh T phải nộp án phí ly hôn số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Số tiền này được khấu trừ xong vào trong số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số No 0002129 ngày 25 tháng 3 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Vĩnh Long.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Vụ án được xét xử công khai. Có mặt chị Thạch Thị Thanh T, vắng mặt anh Huỳnh Văn A. Báo cho chị T có mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để Tòa án cấp trên xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Riêng anh A vắng mặt thì thời hạn kháng cáo nêu trên được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ