vanban.org

Bản án 12/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bộ luật dân sự năm 2015.

326/2016/UBTVQD ngày 30/12/2016. 2.Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Tuấn Đ buộc bà Nguyễn Thị H phải trả cho ông Nguyễn Tuấn Đ1 số tiền là 528.082.191 đồng ( năm trăm hai mươi tám triệu, không trăm tám mươi hai ngàn, một trăm chín mươi mốt đồng). Trong đó tiền gốc là: 50… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Bộ luật dân sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 357 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12 /2025/DS-ST
Ngày: 05 / 8 /2025
V/v “ Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6- THANH HOÁ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Thị Hương.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Đức Thẩm; Bà Nguyễn Thị Lan

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thu Hà, Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6, Thanh hoá.

Ngày 05 tháng 8 năm 2025, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 6-Thanh hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 28 /2025 /TLST-DS ngày 07 tháng 5 năm 2025 về tranh chấp: “ Hợp đồng vay tài sản ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03 /QĐXX-DS ngày 14 / 7/2025 giữa các đương sự: Nguyên đơn: Ông Phạm Tuấn Đ sinh năm 1962 Địa chỉ: Số nhà A đường N, Tổ dân phố A P, phường Q, tỉnh Thanh hóa ( có mặt) Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H sinh năm 1962 Trú tại: Tổ dân phố E, phường Q, tỉnh Thanh Hóa ( có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 14 /4/2025, bản tự khai ngày 01 tháng 4 năm 2025 quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn ông Phạm Tuấn Đ trình bày:

Theo giấy vay tiền ngày 08/01/2025, bà Nguyễn Thị H có vay của ông số tiền là 500.000.000đ ( năm trăm triệu đồng) để lo công việc gia đình. Ông có nói bà H viết giấy vay ông số tiền 500.000.000 đồng và mang về nhà cho chồng ký vào. Sau mấy ngày ông mới biết không phải chữ ký của ông T1 chồng bà H. Theo giấy vay tiền bà H hẹn 05 ngày bà H sẽ trả tiền cho ông, nhưng đến hẹn bà H không trả tiền cho ông. Ông Đ đến nhà hỏi tiền nhưng bà H cứ khất lần mãi. Đây là tiền sương máu dành đã lâu của gia đình ông, nên ông làm đơn đề nghị Toà án giải quyết buộc bà H phải trả số tiền bà H vay. Ông Đ đề nghị tính lãi chậm trả theo quy định của pháp luật. Thời hạn tính lãi chậm trả của khoản vay là từ ngày 13/01/2025 đến ngày Toà án xét xử sơ thẩm.

Tại bản tự khai ngày 26/5/2025, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bà Nguyễn Thị H trình bày:

Năm 2025, bà có vay của ông Đ số tiền là 5000.000.000 đ ( năm trăm triệu đồng) bà vay hộ cho vợ chồng anh Đặng Hà T và chị Bùi Thị N. Mục đích vay tiền anh Đ là để giúp anh T chị N đảo sổ tiền vay của Ngân hàng N1. Giấy tờ anh T và chị N thế chấp là quyền sử dụng đất của gia đình ông Lê Hồng T1 và bà Nguyễn Thị H. Đến hạn, chị N anh T không có tiền trả vào ngân hàng nên có nhờ bà viết giấy vay tiền của anh Đ để đảo sổ ngân hàng. Bà không quen biết ông Đ là ai. Bà viết giấy vay tiền ông Đ số tiền 500.000.000 đồng , theo thoả thuận sau 5 ngày kể từ ngày 08/01/2025 chị N anh T phải trả cho bà số tiền 500.000.000đ để bà trả số tiền trên cho ông Đ, nhưng đến nay anh T và chị N không trả cho bà, nên bà chưa có tiền trả cho ông Đ.

Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn bà Nguyễn Thị H phải có trách nhiệm trả cho ông số tiền 500.000.000đ ( năm trăm triệu đồng) cùng với lãi suất theo quy định của pháp luật. Bị đơn bà Nguyễn Thị H thừa nhận có vay của ông Phạm Tuấn Đ số tiền 500.000.000 đồng, do bà chưa lấy được tiền của anh T và chị N nên bà chưa trả được cho ông Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, hội đồng xét xử nhận định: [1] Xét về tố tụng: Việc ông Phạm Tuấn Đ có đơn đề nghị Toà án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị H phải trả số tiền ông cho vay 500.000.000đ ( năm trăm triệu đồng) theo giấy vay tiền ngày 08/01/2025 là quan hệ pháp luật: “ Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Bà Nguyễn Thị H có địa chỉ tại phường Q, tỉnh Thanh hóa. Căn cứ vào khoản 3 điều 26 điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 Thanh Hoá. 2] Về nội dung: Căn cứ giấy vay tiền ngày 08/01/2025 vợ chồng ông Lê Hồng T1 và bà Nguyễn Thị H có vay của ông Phạm Tuấn Đ số tiền 500.000.000 đồng ( năm trăm triệu đồng) để lo công việc gia đình. Theo ông Đ khai tại phiên toà thời điểm ông Đ cho bà H và là thời điểm bà H vay tiền ở ngân hàng N1 đến hạn trả, do chưa có tiền trả vào ngân hàng nên bà H vay để đảo sổ ngân hàng. Ông Đ cho vay và bảo bà H viết giấy vay và mang về cho chồng ký nhưng bà H không đưa cho ông T1 ( chồng bà H) ký mà tự ký vào giấy tên ông T1. Sự việc bà H vay tiền ông Đ là thực tế. Sau khi đảo sổ ngân hàng bà H không trả tiền cho ông Đ mà cho người khác vay để lấy lãi cao hơn. Nay ông Đ đề nghị bà H phải trả cho ông số tiền đã vay của ông. Việc bà H cho ai vay thì bà H phải khởi kiện bằng vụ án khác.

Xét thấy, việc đề nghị của nguyên đơn là phù hợp với các quy định của pháp luật nên buộc bà H phải trả số tiền đã vay ông Đ là 500.000.000 đồng và lãi suất chậm trả theo quy định.

Về lãi suất chậm trả: Căn cứ khoản 2 điều 357 và khoản 2 điều 468 BLDS năm 2015 tính lãi chậm trả như sau: Theo giấy vay tiền thì ngày vay là ngày 08/01/2025 thời điểm các bên hẹn trả là sau 5 ngày kể từ ngày vay tiền tức là đến ngày 13/01/2025 là thời điểm bắt đầu tính lãi chậm chả đến ngày xét xử là 05/8/2025 là 205 ngày tính lãi như sau: (500.000.000đ x 10% x 205 ngày ): 365 = 28.082.191 đồng ( hai mươi tám triệu, không trăm tám mươi hai ngàn, một trăm chín mươi mốt đồng). Tổng cả gốc và lãi là: 528.082.191 đồng ( năm trăm hai mươi tám triệu, không trăm tám mươi hai ngàn, một trăm chín mươi mốt đồng).

.Về án phí : Bà Nguyễn Thị H là đối tượng người cao tuổi có đơn xin miễn tiền án phí nên căn cứ điểm đ khoản 1 điều 12 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 miễn toàn bộ tiền án phí DSST bà Nguyễn Thị H phải nộp. Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. áp dụng:

Khoản 3 điều 26; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39 khoản 1

điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463;464;466; 357; khoản 2 điều 468

Bộ luật dân sự năm 2015. Điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết

326/2016/UBTVQD ngày 30/12/2016. 2.Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Tuấn Đ buộc bà Nguyễn Thị H phải trả cho ông Nguyễn Tuấn Đ1 số tiền là 528.082.191 đồng ( năm trăm hai mươi tám triệu, không trăm tám mươi hai ngàn, một trăm chín mươi mốt đồng). Trong đó tiền gốc là: 500.000.000 đồng và tiền lãi là: 28.082.191 đồng. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, ông Nguyễn Tuấn Đ1 có đơn đề nghị thi hành án nếu bà Nguyễn Thị H không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền trên cho ông Đ1 thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm trả tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, mức lãi suất bằng ½ mức lãi suất quy định tại khoản 1 điều 468 BLDS. 3.Về án phí: Miễn toàn bộ tiền án phí DSST cho bà Nguyễn Thị H. 4. Bản án này được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7a và 9 Luật thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án Dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, ông Nguyễn Tuấn Đ1 và bà Nguyễn Thị H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ( 05/8/2025 ).

Cỡ chữ