vanban.org

Bản án 12/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với bà Dương Thị Bích T về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Buộc bà Dương Thị Bích T phải trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền 415.172.984đ (bốn trăm mười lăm triệu một trăm bảy mươi hai nghìn chín trăm tám mươi bốn đồng), trong đó: tiền gốc vay là 287.213.897đ (hai trăm tám mươi bảy triệu hai trăm mười ba nghìn tám trăm chín mươi bảy đồng), tiền lãi quá hạ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với bà Dương Thị Bích T về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
  • Căn cứ chính? Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/DS-ST
Ngày: 09-8-2025.
"V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Tuấn.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Bút.

2. Ông Cao Văn Truyện.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Xuân Thắng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4

- Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thị Xuân Lành - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2025 tại Cơ sở 2 - Toà án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 42/2025/TLST-DS ngày 13 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2025/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2025, Thông báo số: 42/TB-TA ngày 27 tháng 6 năm 2025 về việc thay đổi thời gian mở phiên toà và Thông báo số: 42/TB-TA ngày 08 tháng 7 năm 2025 về thời gian, địa điểm mở lại phiên toà, Quyết định hoãn phiên toà số: 07/2025/QĐST-DS ngày 24 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S. Địa chỉ trụ sở: Số B N, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh (phường V, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh cũ); người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh N - chức danh: Quyền Tổng giám đốc S1; người đại diện tham gia tố tụng theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Công M, chức danh: Chuyên viên KHCN Phòng G thuộc Chi nhánh Đ; địa chỉ liên hệ: Số F đường T, phường H, thành phố Đà Nẵng (theo Quyết định số: 3525/2023/QĐ-PC ngày 25/12/2023 v/v uỷ quyền ký hợp đồng/thoả thuận, văn bản và tham gia tố tụng của Tổng giám đốc S1 và Giấy ủy quyền số: 02/2024/GUQ-CNĐN ngày 17/10/2024 của Trưởng Phòng G, Thông báo số: 1768/2002/TB-TGĐ ngày 27/5/2025 của Quyền Tổng giám đốc S1, có mặt).

- Bị đơn: Bà Dương Thị Bích T - sinh năm: 1972, địa chỉ: Thôn Q, phường L, thành phố Đà Nẵng (thôn Q, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng cũ); số CCCD: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày: 22/12/2021 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện gửi đến Toà án nhân dân khu vực 4 – Đà Nẵng (Toà án nhân dân huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng cũ) ngày 04 tháng 12 năm 2024, các bản tự khai ngày 26 tháng 5 năm 2025, ngày 04 tháng 7 năm 2025, ngày 24 tháng 7 năm 2025 và tại phiên toà hôm nay, đại diện nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 27 tháng 7 năm 2022, bà Dương Thị Bích T có ký với Phòng G – Chi nhánh Ngân hàng TMCP S tại thành phố Đà Nẵng hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 2148082 và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng có hiệu lực từ ngày 22/4/2021 - các tài liệu được gọi chung là Hợp đồng), được phía Ngân hàng chấp nhận cấp thẻ vào ngày 29 tháng 7 năm 2022.

Căn cứ yêu cầu tín dụng của bà T, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng 250.000.000đ (hai trăm năm mươi triệu đồng) với mục đích tiêu dùng cá nhân; lãi suất áp dụng 2,5%/tháng theo Quyết định số: 2661/2022/QĐ-TTT ngày 28/10/2022 về việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ S1 phát hành tại Việt Nam, lãi suất quá hạn bằng 150% của lãi suất trong hạn, khách hàng được miễn lãi cho giao dịch mua bán hàng hoá/thanh toán trực tuyến nếu thanh toán toàn bộ số tiền đến hạn vào hoặc trước ngày đến hạn, riêng giao dịch rút bằng tiền mặt thì lãi suất được tính kể từ ngày phát sinh giao dịch; số tiền thanh toán sẽ được ưu tiên trừ vào các khoản phí, lãi trước sau đó sẽ trừ tiếp vào các khoản giao dịch.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng với số thẻ 436438-8096, bà T đã nhiều lần thực hiện giao dịch thanh toán với tổng số tiền 493.233.320đ (bốn trăm chín mươi ba triệu hai trăm ba mươi ba nghìn ba trăm hai mươi đồng), chưa bao gồm các loại phí và lãi suất phát sinh. Vì bà T thực hiện nghĩa vụ thanh toán không đúng với thoả thuận dù đã được thông báo từ Ngân hàng, nên đến ngày 05 tháng 9 năm 2024 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu bao gồm: tiền nợ đầu kỳ, phí trễ hạn, lãi phát sinh, phí VHM với tổng số tiền 287.213.897đ (hai trăm tám mươi bảy triệu hai trăm mười ba nghìn tám trăm chín mươi bảy đồng) sang nợ quá hạn (theo tiểu mục 24.4 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng).

Tính từ ngày 06 tháng 9 năm 2024 đến ngày 09 tháng 8 năm 2025 (ngày xét xử), bà T phải thanh toán tiền gốc vay là 287.213.897đ (hai trăm tám mươi bảy triệu hai trăm mười ba nghìn tám trăm chín mươi bảy đồng), tiền lãi quá hạn là 127.959.087đ (một trăm hai mươi bảy triệu chín trăm năm mươi chín nghìn không trăm tám mươi bảy đồng). Do vậy, Ngân hàng yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà T phải trả tổng số tiền tạm tính đến ngày cho Ngân hàng là 415.172.984đ (bốn trăm mười lăm triệu một trăm bảy mươi hai nghìn chín trăm tám mươi bốn đồng); đồng thời, kể từ ngày 10 tháng 8 năm 2025 cho đến khi thanh toán xong nợ bà T còn phải trả lãi quá hạn phát sinh do chậm trả đối với số tiền nợ gốc chuyển sang nợ quá hạn .

Bị đơn bà Dương Thị Bích T đã được Toà án cấp, tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên toà, Thông báo về thời gian, địa điểm mở lại phiên toà và Quyết định hoãn phiên toà nhưng không đến Toà án để tham gia tố tụng, không có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Toà án.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng phát biểu ý kiến như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết, thu thập chứng cứ, tống đạt văn bản tố tụng cho các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án; tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng; nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về giải quyết nội dung vụ án: Áp dụng các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự, Điều 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn tổng số tiền nợ vay tính đến ngày 09 tháng 8 năm 2025 là 415.172.984đ (bốn trăm mười lăm triệu một trăm bảy mươi hai nghìn chín trăm tám mươi bốn đồng).

+ Kể từ ngày 10 tháng 8 năm 2025 cho đến khi thanh toán xong số tiền nêu trên thì hàng tháng bà Dương Thị Bích T còn phải chịu tiền lãi quá hạn trên số tiền nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 27 tháng 7 tháng 2022, Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S mà hai bên đã ký kết.

+ Về án phí: Bị đơn phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đà Nẵng (Toà án nhân dân huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng cũ) thụ lý và giải quyết yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với bà Dương Thị Bích T về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” là đúng với quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Phiên tòa hôm nay là lần thứ hai bị đơn vắng mặt nhưng không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp: Ngân hàng TMCP S đã cấp thẻ tín dụng số 436438-8096 với hạn mức tín dụng 250.000.000đ cho bà Dương Thị Bích T theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng 2148082 vào ngày 29 tháng 7 năm 2022, với mục đích tiêu dùng cá nhân, mức lãi suất 2,5%/tháng, lãi quá hạn 3,75%/tháng. Quyền và nghĩa vụ của các bên được thực hiện theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà T đã nhiều lần thực hiện giao dịch với tổng số tiền 493.233.320đ (bốn trăm chín mươi ab triệu hai trăm ba mươi ba nghìn ba trăm hai mươi đồng). Tính đến ngày 05 tháng 9 năm 2024, bà T còn nợ lại các khoản gồm: Số tiền dư nợ đầu kỳ là 276.273.100đ, phí trễ hạn: 3.374.745đ, phí VHM: 621.685đ, lãi phát sinh 6.944.367đ. Tổng số tiền các khoản nêu trên là 287.213.897đ (hai trăm tám mươi bảy triệu hai trăm mười ba nghìn tám trăm chín mươi bảy đồng), được chuyển sang nợ gốc quá hạn do bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, theo tiểu mục 24.4 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng. Bà T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu thanh toán; bà T cũng không đến Toà án tham gia tố tụng, không có ý kiến phản hồi về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

Xét thấy Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết là Hợp đồng vay tài sản không có biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, những người tham gia ký kết đều có năng lực trách nhiệm dân sự, thể hiện sự tự nguyện thỏa thuận của các bên, nội dung hợp đồng không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên có hiệu lực pháp luật theo quy định tại các Điều 117, 463 của Bộ luật Dân sự và Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Do bà Dương Thị Bích T không thực hiện thanh toán đúng hạn theo thoả thuận nên Ngân hàng chấm dứt cấp tín dụng, khởi kiện là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, tiểu mục 24.4 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc bà Dương Thị Bích T thanh toán tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 09/8/2025 là 415.172.984đ (bốn trăm mười lăm triệu một trăm bảy mươi hai nghìn chín trăm tám mươi bốn đồng), trong đó: Tiền gốc vay là 287.213.897đ (hai trăm tám mươi bảy triệu hai trăm mười ba nghìn tám trăm chín mươi bảy đồng), tiền lãi quá hạn là 127.959.087đ (một trăm hai mươi bảy triệu chín trăm năm mươi chín nghìn không trăm tám mươi bảy đồng). Ngoài ra, đại diện Ngân hàng còn yêu cầu tiếp tục tính lãi quá hạn phát sinh do chậm trả đối với số tiền nợ gốc chuyển sang nợ quá hạn nêu trên kể từ ngày 10 tháng 8 năm 2025 cho đến khi thanh toán xong nợ. Xét thấy yêu cầu trả nợ của đại diện nguyên đơn đối với bị đơn đúng quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự, Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng, Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng mà hai bên đã ký kết, nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, phù hợp với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà.

Về án phí: Bà Dương Thị Bích T phải chịu 20.606.900đ (20.000.000đ + 15.172.984đ x 4%, đã làm tròn số) tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Các Điều 117, 463 và 466 của Bộ luật Dân sự; Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với bà Dương Thị Bích T về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Buộc bà Dương Thị Bích T phải trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền 415.172.984đ (bốn trăm mười lăm triệu một trăm bảy mươi hai nghìn chín trăm tám mươi bốn đồng), trong đó: tiền gốc vay là 287.213.897đ (hai trăm tám mươi bảy triệu hai trăm mười ba nghìn tám trăm chín mươi bảy đồng), tiền lãi quá hạn tạm tính đến ngày 09 tháng 8 năm 2025 là 127.959.087đ (một trăm hai mươi bảy triệu chín trăm năm mươi chín nghìn không trăm tám mươi bảy đồng).

Kể từ ngày 10 tháng 8 năm 2025 cho đến khi thanh toán xong số tiền nêu trên thì hàng tháng bà Dương Thị Bích T còn phải chịu tiền lãi quá hạn trên số tiền nợ gốc (287.213.897đ) theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18 tháng 11 tháng 2022, Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S mà hai bên đã ký kết.

2. Về án phí: Bà Dương Thị Bích T phải chịu 20.606.900đ (hai mươi triệu sáu trăm lẻ sáu nghìn chín trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.454.690đ (bảy triệu bốn trăm năm mươi bốn nghìn sáu trăm chín mươi đồng) theo biên lai thu số 0008417 ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng (nay là Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng).

3. Về quyền kháng cáo: Đại diện nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 09/8/2025). Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

4. Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ