- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng đặt cọc — án dân sự — "Tô Văn P và Trần Văn D"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Tô Văn P.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 328 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6-CẦN THƠ THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ___________________ Bản án số: 12/2025/DS-ST Ngày: 13-8-2025 V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6-CẦN THƠ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Sơn Thị Vành Đa.
Ông Nguyễn Minh Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6-Cần Thơ, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6-Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý– Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6-Cần Thơ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 59/2025/TLST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Tô Văn P; Địa chỉ: ấp P, xã M, thành phố Cần Thơ (có mặt).
- Bị đơn: Ông Trần Văn D; Địa chỉ: ấp B, xã M, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Lâm Thị Sà T; Địa chỉ: ấp B, xã M, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
2. Ông Danh T; Địa chỉ: ấp T, xã M, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 02 tháng 4 năm 2025 và tại phiên toà nguyên đơn ông Tô Văn P trình bày:
Vào ngày 15/03/2021 ông Tô Văn P có ký kết hợp đồng mua bán lúa tươi với ông Trần Văn D, địa chỉ: ấp Bét Tôn, xã Phú Mỹ, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (nay địa chỉ: ấp B, xã M, thành phố Cần Thơ). Theo thỏa thuận giữa hai bên, thì phía bị đơn ông Trần Văn D bán lúa tươi cho ông Tô Văn P số lượng khoảng 200 tấn lúa loại giống Đài Thơm 8 (đã gieo sạ được 60 ngày tuổi), với giá lúa bán dựa theo giá thị trường tại thời điểm cân lúa (nhưng khấu trừ lại 100 đồng/kg lúa), ngày giao nhận lúa bắt đầu từ ngày 25 cho đến ngày 30 tháng 4 năm 2021. Sau khi xác lập hợp đồng trên, ông Tô Văn P có đưa tiền đặt cọc trước cho ông Trần Văn D nhận số tiền là 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng), có sự chứng kiến của ông Danh T, sinh năm 1984, địa chỉ: ấp Tá Biên, xã Phú Mỹ, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (nay địa chỉ: ấp Tá Biên, xã Mỹ Hương, thành phố Cần Thơ).
Đến ngày 25 tháng 4 năm 2021 hai bên bắt đầu thực hiện hợp đồng mua bán lúa tươi (bị đơn ông Trần Văn D giao lúa cho nguyên đơn ông Tô Văn P), tuy nhiên khi đến ngày thoả thuận thì ông Trần Văn D không thực hiện giao lúa cho ông Tô Văn P. Sau đó, ông Tô Văn P có đến gặp ông Trần Văn D nhưng ông Trần Văn D không gặp ông Tô Văn P, ông Phong liên lạc qua điện thoại với ông Trần Văn D nhiều lần vẫn không được.
Ngày 05 tháng 11 năm 2021 ông Tô Văn P gửi đơn đến Tổ hòa giải ấp Bét Tôn, xã Phú Mỹ, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (nay ấp B, xã M, thành phố Cần Thơ) có mời ông Trần Văn D và ông Danh T đến Nhà văn hóa cộng đồng ấp Bét Tôn để hòa giải. Tại phiên hòa giải, ông Trần Văn D thừa nhận có nhận tiền cọc của ông Tô Văn P số tiền 60.000.000 đồng, tuy nhiên ông Trần Văn D cho rằng đã gởi lại số tiền 60.000.000 đồng cho ông Danh T nhờ trả hộ cho ông Tô Văn P. Còn theo ông Danh T trình bày có nhận số tiền 60.000.000 đồng từ ông Trần Văn D và trả cho ông Tô Văn P số tiền 30.000.000 đồng và theo ông Danh T cho rằng chỉ còn nợ ông Tô Văn P số tiền 30.000.000 đồng. Tuy nhiên, thực tế ông Tô Văn P không có nhận tiền trả từ ông Dinh và ông Tuấn nên hoà giải không thành và ông Phong đã nộp đơn khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện Mỹ Tú (nay Toà án nhân dân khu vực 6-Cần Thơ). Do vậy, người ký kết hợp đồng đặt cọc với ông Phong là ông Trần Văn D nên ông Trần Văn D phải có trách nhiệm trả cho ông Phong số tiền cọc 60.000.000 đồng như đã thoả thuận trong hợp đồng.
Theo đơn khởi kiện lập ngày 02 tháng 4 năm 2025 nguyên đơn ông Tô Văn P yêu cầu bị đơn trả tiền lãi theo quy định của Nhà Nước từ ngày 25 tháng năm 2021 đến ngày 02 tháng 4 năm 2025 số tiền là 78.020.000 đồng và tiền công lời giao kết trong hợp đồng 100 đồng giá/1kg, tổng cộng 200 tấn bằng 20.000.000 đồng và yêu cầu ông Trần Văn D tiếp tục chịu lãi suất từ ngày 03 tháng 4 năm 2025 cho đến ngày Tòa án đưa vụ án ra xét xử. Nhưng tại phiên tòa hôm nay ông Tô Văn P thay đổi yêu cầu chỉ yêu cầu ông Trần Văn D trả số tiền cọc 60.000.000 đồng.
Nay ông Tô Văn P yêu cầu Toà án nhân dân khu vực 6-Cần Thơ, thành phố Cần Thơ giải quyết: Buộc ông Trần Văn D trả cho ông Tô Văn P số tiền cọc 60.000.000 đồng.
Đối với bị đơn Trần Văn D và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị Sà T, ông Danh T: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án hợp lệ cho ông Dinh, ông Tuấn và bà The nhưng ông Dinh, ông Tuấn và bà The không có văn bản trả lời cho Tòa án. Tòa án có gửi thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vụ án hai (02) lần nhưng ông Dinh, ông Tuấn và bà The vẫn không tham gia. Sau đó, Tòa án đã Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông Dinh, ông Tuấn và bà The nhưng ông Dinh, ông Tuấn và bà The không gửi văn bản ghi ý kiến của ông Dinh, ông Tuấn và bà The đối với yêu cầu khởi kiện nêu trên của nguyên đơn ông Phong.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung vụ án, nguyên đơn ông Phong yêu cầu Toà án giải quyết buộc bị đơn ông Dinh trả số tiền đặt cọc 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng) là phù hợp theo quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Tô Văn P.
Tại phiên toà nguyên đơn ông Tô Văn P thay đổi yêu cầu, không yêu cầu bị đơn ông Trần Văn D trả tiền lãi. Thấy rằng thay đổi trên của nguyên đơn ông Tô Văn P không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu nên căn cứ vào khoản 1 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Tô Văn P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị đơn Trần Văn D và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị Sà T, ông Danh T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn Trần Văn D và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị Sà T, ông Danh T.
Xét việc nguyên đơn ông Tô Văn P thay đổi yêu cầu, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn ông Trần Văn D trả số tiền đặt cọc 60.000.000 đồng, không yêu cầu bị đơn ông Trần Văn D trả lãi. Hội đồng xét xử thấy rằng việc thay đổi yêu cầu của nguyên đơn không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu nên theo quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án của Toà án: Nguyên đơn ông Phong khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Dinh trả cho ông Phong số tiền cọc 60.000.000 đồng đồng theo “Hợp đồng nua bán lúa tươi” lập ngày 15 tháng 3 năm 2021 nên căn cứ vào Điều 328 của Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án tranh chấp Hợp đồng đặt cọc theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Trần Văn D; Địa chỉ: ấp Bét Tôn, xã Phú Mỹ, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (nay ấp Bét Tôn, xã Mỹ Hương, thành phố Cần Thơ) theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 35 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, Đối thoại tại Toà án ngày 25 tháng 6 năm 2025. Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (nay Toà án nhân dân khu vực 6-Cần Thơ) thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Tô Văn P cung cấp bản chính “Hợp đồng nua bán lúa tươi” lập ngày 15 tháng 3 năm 2021 có bị đơn ông Trần Văn D ký tên vào Tờ thỏa thuận. Căn cứ khoản 1 Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng” và tại khoản 2 quy định: “Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Căn cứ theo quy định trên, số tiền cọc 60.000.000 đồng bị đơn ông Dinh không thực hiện giao lúa cho nguyên đơn ông Phong. Như vậy, bị đơn ông Dinh đã từ chối việc giao kết thực hiện hợp đồng, nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Tô Văn P là có căn cứ.
Từ những cơ sở trên xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Tô Văn P buộc bị đơn ông Trần Văn D trả số tiền cọc 60.000.000 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 328 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về phạt cọc: Do Nguyên đơn và bị đơn không có yêu cầu phạt cọc do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Tô Văn P là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Do yêu cầu của nguyên đơn ông Tô Văn P được chấp nhận nên không phải chịu án phí; Bị đơn ông Trần Văn D phải chịu án phỉ là 3.000.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; khoản 2 Điều 235; Điều 271; Điều 273; Điều 278 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, Đối thoại tại Toà án ngày 25 tháng 6 năm 2025.
Căn cứ Điều 328, Điểu 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Tô Văn P.
Buộc bị đơn ông Trần Văn D trả cho nguyên đơn ông Tô Văn P số tiền đặt cọc 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng).
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày nguyên đơn ông Tô Văn P có đơn yêu cầu thi hành án mà bị đơn ông Trần Văn D chưa thanh toán, thì hàng tháng bị đơn ông Trần Văn D còn phải trả lãi cho nguyên đơn ông Tô Văn P theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với số tiền chậm thi hành án.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Tô Văn P không phải chịu án phí. Hoàn trả cho nguyên đơn ông Tô Văn P tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 3.951.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007631 ngày 12 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (nay Phòng thi hành án dân sự khu vực 6, Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ).
Bị đơn ông Trần Văn D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.000.000 đồng.
3. Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án Dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a , 7b và 9 của Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án Dân sự năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án Dân sự năm 2014.
| Nơi nhận - TAND thành phố Cần Thơ; - VKSND khu vực 6-Cần Thơ; - Phòng THAKV6, THADS TPCT; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thu Hồng |