vanban.org

Bản án 12/2024/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàng Mai, TP. Hà Nội Tuyên án 22/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố Trần Thị M phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Xử phạt Trần Thị M 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Trần Thị M cho UBND thị trấn Cẩm x, huyện Cẩm x, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị M phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố Trần Thị M phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số Số: 02/2022/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số q…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THƢỜNG TÍN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

------------
Bản án số:12/2024/HSST
Ngày: 22/01/2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƢỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu H2

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Minh Khương

Bà Lý Thị Thu H

Thƣ ký phiên toà: Bà Vũ Hà Anh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thƣờng Tín tham gia phiên tòa: Ông Tô Quốc Hải -Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 149/2023/TLST-HS ngày 30/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 153/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Thị M- sinh năm 1984, tại Hà Tĩnh; Nơi đăng ký thường trú: tổ dân phố 1, thị trấn Cẩm x, huyện Cẩm x, tỉnh Hà Tĩnh; Tạm trú: thôn Nỏ B, xã Vân T, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp:Tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Hữu V (đã chết) và bà Nguyễn Thị V, chồng là Trần Thanh L (đã ly hôn), có hai con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Theo danh chỉ bản số 356 do công an huyện Thường Tín lập ngày 07/9/2023). Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: chị Trần Thị H, sinh năm 1991 (vắng mặt)

Trú tại: số 301 Cầu D, thị trấn Thường T, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội.

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/Anh Nguyễn Mai H, sinh năm 1981 (có đơn xét xử vắng mặt)

Trú tại: số 301 Cầu D, thị trấn Thường T, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội

2/Chị Trần Thị H1, sinh năm 1986 (vắng mặt)

3/ Anh Đặng Quốc A, sinh năm 1991 (vắng mặt)

Cùng trú tại: số 45B ngách 26B/56 ngõ 56 Lê Quang Đạo, phường Phú Đ1, quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.

4/ Chị Phan Thị P, sinh năm 1983 (có đơn xét xử vắng mặt)

Nơi thường trú: xóm 3, xã Diễn T, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 04/8/2022, Trần Thị H cùng với Trần Thị H1 (chị gái ruột của H), Đặng Quốc A (anh rể H), H2 và một người đàn ông không rõ tên nhân thân, lai lịch (bạn của H1) đi đến phòng trọ của Trần Thị M tại thôn Nỏ B, xã Vân T, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội để đánh ghen do nghi ngờ chồng H là anh Mai Văn Huy có quan hệ tình cảm đối với M. Khi đến nơi, H gõ cửa phòng trọ thì M ra mở cửa, H bỏ điện thoại của mình nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh ra quay clip và đi vào bên trong phòng trọ lật chăn lên thì M đi theo gạt tay H ra không cho H lật chăn vì trong chăn có anh Huy đang nằm ngủ. H dùng tay tát vào mặt M liền bị M đánh lại đồng thời gạt tay không cho H quay clip làm điện thoại của H bị rơi xuống (không bị hư hỏng gì). Sau đó, H1 và Quốc A cùng xông vào túm đánh M để H cầm cốc thủy tinh có sẵn trong phòng đập vào đỉnh đầu của M. Lúc này, anh Huy dậy can ngăn không cho H và M đánh nhau thì M cầm 01 chiếc búa bằng kim loại (dùng để đập gừng, tỏi) có sẵn trong phòng trọ đánh 02 cái trúng vào trán và môi của H. Thấy có xô xát đánh nhau thì chị Phan Thị P (bạn của M cùng dãy trọ) chạy đến đánh nhau với nhóm của H. Sau đó, anh Huy bị Quốc A và một người đàn ông nhóm H đánh bất tỉnh thì nhóm H bỏ về.

Hậu quả:

-Anh Nguyễn Mai H đi khám tại bệnh viện nông nghiệp I: bị sưng nề vùng hàm mặt, vết thương vùng trán chày sát da.

-Trần Thị M đi khám tại Bệnh viện nông nghiệp I: bị vết thương đỉnh đầu bên phải kích thước (1x1)cm, chảy máu bờ mép nham nhở, bầm tím vùng hàm mặt.

-Chị Phan Thị P bị xước da cánh tay phải.

- Chị Trần Thị H đi khám tại Bệnh viện Răng hàm mặt trung ương: bị rách da môi trên, rách da trán dưới, rách niêm mạc môi trên, mất chụp sứ răng.

-Tài sản bị thiệt hại: 04 ly thủy tinh bị vỡ, 01 gậy bằng sắt dùng để phơi quần áo bị hư hỏng.

Vật chứng thu giữ: (do Trần Thị M giao nộp) 01 ống kim loại màu đen dài khoảng 1,2m phi 20; 01 túi nilong bên trong đựng mảnh cốc thủy tinh vỡ; 01 vòng đeo tay bằng gỗ; 01 đôi dép bằng nhựa; 01 búa đập đá màu bạc bằng kim loại; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh.

Chị Trần Thị H giao nộp 01 USB chứa hình ảnh liên quan đến vụ việc đánh nhau giữa chị H và Trần Thị M.

Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích số 1561/GĐ-TTPY ngày 07/11/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế Hà Nội kết luận đối với anh Nguyễn Mai H: Sẹo vết thương vùng trán (trong chân tóc): 01%; Cơ chế hình thành thương tích: thương tích và các chạm thương do vật tày, tày có cạnh gây nên. Tỷ lệ tổn hại sức khỏe 1%.

Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích số 1755/GĐ-TTPY ngày 12/12/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế Hà Nội kết luận đối với chị Trần Thị H: Các sẹo vết thương, sẹo xây xát da: 6%. Cơ chế hình thành thương tích: Các tổn thương do vật tày và vật tày có cạnh gây nên. Tỷ lệ tổn hại sức khỏe 6%.

Chị Phan Thị P không đi giám định thương tích và không có yêu cầu đề nghị gì về thương tích của mình. Anh Mai Văn Huy có đơn không yêu cầu khởi tố và miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đã gây thương tích cho mình. Chị Trần Thị H có đơn yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với các đối tượng đã gây thương tích cho chị. Trần Thị M từ chối giám định thương tích.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Trần Thị H yêu cầu Trần Thị M bồi thường số tiền là 199.475.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 147/CT-VKSTT ngày 29/11/2023,Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín truy tố Trần Thị M về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134-Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà:

*Bị cáo: khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận bản cáo trạng truy tố đúng hành vi bị cáo đã thực hiện và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt. Về trách nhiệm dân sự: Ngày 18/12/2023 bị cáo đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự số tiền là 15.000.000 đồng để khắc phục hậu quả cho bị hại. Bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại theo quy định của pháp luật.

*Đại diện VKSND huyện Thường Tín giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

+Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65- Bộ luật Hình sự năm 2015, đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

+Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu bồi thường của bị hại tổng số tiền là từ 14.791.000 đồng đến 16.591.000 đồng

+Về xử lý vật chứng:

-Trả lại cho chị H 01 vòng đeo tay bằng gỗ; 01 đôi dép bằng nhựa; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh.

-Tịch thu tiêu hủy: 01 ống kim loại màu đen dài 1,2m; 01 túi nilong bên trong đựng mảnh cốc thủy tinh vỡ; 01 búa màu bạc bằng kim loại.

+Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 04/8/2022, tại phòng trọ của Trần Thị M thuộc thôn Nỏ B, xã Vân T, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội, do nghi ngờ ghen tuông nên xảy ra xô xát giữa Trần Thị M và Trần Thị H. Trần Thị M đã sử dụng 01 búa bằng kim loại (loại để đập gừng tỏi) đánh hai cái trúng vào trán bên trái và môi H gây thương tích cho H. Hậu quả chị H bị rách da môi trên, rách da trán dưới, rách niêm mạc môi trên, mất chụp sứ răng, tỷ lệ tổn hại sức khỏe 6%. Hành vi của Trần Thị M đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết “dùng hung khí nguy hiểm” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngày 18/12/2023 đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại (nộp tiền tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thường Tín). Bị cáo có mẹ đẻ là thương binh loại 4/4 và bệnh binh loại 3/3, đang hưởng chính sách chế độ của Nhà nước. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 – Bộ luật hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Từ những nhận định trên, xét thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 51- Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo có một con bị bệnh tim bẩm sinh là lao động chính trong gia đình. Mặt khác nguyên nhân dẫn đến xô xát là do bị hại có một phần lỗi, đã đánh bị cáo trước. Xét thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo tự cải tạo ngoài xã hội cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 587, 590 - Bộ luật dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do bị hại giao nộp, Hội đồng xét xử chấp nhận các khoản bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm của chị Trần Thị H như sau:

- Chi phí điều trị tại Bệnh viện răng hàm mặt Trung ương là 2.520.000 đồng (thể hiện tại các phiếu thu từ BL số 130B -137), chi phí giám định sức khỏe, điện não đồ, chụp X quang ngày 23/9/2022 là: 915.000 đồng (hóa đơn số 4741, thể hiện tại BL số 138), tiền mua thuốc (có đơn thuốc của bác sỹ) là 2.200.000 đồng.

- Tiền chi phí di chuyển đi khám điều trị: 3.000.000 đồng.

- Tiền bồi dưỡng sức khỏe là 3 tháng lương cơ bản: 1.800.000 đồng x 3 = 5.400.000 đồng.

- Chị H vào viện lúc 04 giờ 42 phút ra viện lúc 06 giờ 42 phút ngày 04/8/2022, như vậy chị H nằm viện điều trị trong một ngày. Tuy nhiên quá trình điều trị cần tái khám lại nên Hội đồng xét xử chấp nhận tiền mất thu nhập của chị H là 01 tháng. Chị H khai là nhân viên phục vụ cửa hàng ăn uống nhưng không có tài liệu chứng minh về hợp đồng lao động, bảng lương được hưởng hàng tháng. Theo xác minh mức thu nhập trung bình tại địa P đối với lao động tự do của một người là 6.500.000 đồng/01 tháng. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận tiền mất thu nhập của chị H trong một tháng là 6.500.000 đồng.

Đối với tiền bồi thường tổn thất tinh thần, do bị hại có lỗi trong vụ án và là nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần theo yêu cầu của chị H. Đối với tiền thẩm mỹ sẹo vết thương, thẩm mỹ làm lại răng, xét thấy những yêu cầu trên của chị H không có sự chỉ định của bác sỹ và không có hóa đơn chứng minh nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu bồi thường này.

Như vậy, tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho bị hại là 20.535.000 đồng. Bị cáo M đã tự nguyện nộp số tiền khắc phục hậu quả là 15.000.000 đồng tại chi cục thi hành án dân sự huyện Thường Tín. Như vậy, chị Trần Thị H được nhận số tiền là 15.000.000 đồng tại chi cục thi hành án dân sự huyện Thường Tín (theo biên lai thu tiền số 0016045 ngày 18/12/2023). Bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường số tiền là 5.535.000 đồng cho chị Trần Thị H.

Đối với Trần Thị M bị thương tích nhưng từ chối giám định thương tích và không có yêu cầu đề nghị gì về thương tích và đề nghị gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với anh Nguyễn Mai H, quá trình điều tra xác định anh Huy không có hành vi đánh chị Trần Thị H nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ. Về thương tích của anh Nguyễn Mai H có đơn xin không yêu cầu khởi tố và miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người gây thương tích cho mình.

Đối với chị Trần Thị H, Trần Thị H1, Đặng Quốc A có hành vi đánh nhau, gây thương tích cho Trần Thị M và anh Nguyễn Mai H, Phan Thị P có hành vi đánh nhau gây thương tích cho chị Trần Thị H1. Hành vi của H, H1, Quốc A, P đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính nên Cơ quan điều tra không ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với đối tượng tên H2 và một người đàn ông trong nhóm của H, cơ quan điều tra đã xác minh nhưng chưa làm rõ được, khi nào làm rõ có căn cứ sẽ xử lý sau.

Về xử lý vật chứng:

+Những đồ vật gồm 01 vòng đeo tay bằng gỗ, 01 đôi dép bằng nhựa, 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh là của chị Trần Thị H nên trả lại cho chị H.

+01 ống kim loại màu đen dài 1,2m, 01 túi nilong bên trong đựng mảnh cốc thủy tinh vỡ không có giá trị sử dụng, 01 búa bằng kim loại là công cụ phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 - Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm a, c khoản 1 Điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333- Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65- Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

1.Về tội danh: Tuyên bố Trần Thị M phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2.Về hình phạt: Xử phạt Trần Thị M 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Trần Thị M cho UBND thị trấn Cẩm x, huyện Cẩm x, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3.Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 357, 468, 584, 585,586, 590 - Bộ luật dân sự năm 2015: Chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm của chị Trần Thị H là 20.535.000 đồng. Bị cáo M đã tự nguyện nộp số tiền khắc phục hậu quả là 15.000.000 đồng tại chi cục thi hành án dân sự huyện Thường Tín. Như vậy, chị Trần Thị H được nhận số tiền là 15.000.000 đồng tại chi cục thi hành án dân sự huyện Thường Tín (theo biên lai thu tiền số 0016045 ngày 18/12/2023). Bị cáo phải tiếp tục bồi thường số tiền là 5.535.000 đồng cho chị Trần Thị H.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

4 .Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47- Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

+Trả lại cho chị Trần Thị H 01 vòng đeo tay bằng gỗ; 01 đôi dép bằng nhựa; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh (thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 04/12/2023).

-Tịch thu tiêu hủy 01 ống kim loại màu đen dài 1,2m; 01 túi nilong bên trong đựng mảnh cốc thủy tinh vỡ; 01 búa bằng kim loại (thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 04/12/2023).

5.Về án phí: Áp dụng Điều 136 – Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm a, c khoản 1 Điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm là 1.026.750 đồng.

6.Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333- Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:

Bị cáo Trần Thị M có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

7. Về việc thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định của tòa án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ