- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2024/HS-ST Ngày: 12/3/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phan Thị Vi Vân;
2. Ông Đoàn Văn Tám;
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tuấn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Hà My - Kiểm sát viên. Ngày 12 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2024/TLST-HS, ngày 31 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Quang T, sinh năm 1982; Nơi sinh: Hà Tĩnh;
Nơi thường trú: Xóm I, thôn B, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị S; Có vợ và 02 người con;
Tiền án: Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 702/2016/HSPT ngày 09/12/2016 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt Trần Quang T tù chung thân về tội “giết người” và 04 năm tù về tội “cướp tài sản” theo quy định tại điểm e, n khoản 1 Điều 93, khoản 1 Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
Tiền sự: Không;
Bị cáo hiện đang chấp hành án tù chung thân tại Phân trại số B - Trại giam H1, Cục C1 – Bộ C2. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Lê Thanh H, sinh năm 2001 (Có mặt);
Nơi thường trú: ấp B, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương. Hiện đang chấp hành án tại Phân trại số B, Trại giam H1, Cục C1 – Bộ C2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Quang T là phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù chung thân tại Trại giam H1 thuộc Cục C1 Bộ C2 về tội “giết người” và “cướp tài sản” quy định tại điểm e, n khoản 1 Điều 93, khoản 1 Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 theo Bản án hình sự phúc thẩm số 702/2016/HSPT ngày 09/12/2016 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và theo Quyết định thi hành án hình phạt tù chung thân số 02/2017/QĐ-CA ngày 09/01/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 27/8/2023, trong lúc sinh hoạt tại buồng giam I.1, đội 29, khu I, Phân tại số B, Trại giam H1, Trần Quang T dùng 01 cái mền mắc trong buồng giam tạo thành cái võng để nằm xem ti vi, lúc này có phạm nhân Lê Thanh H (sinh năm 2001, trú tại ấp B, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương) là phạm nhân chấp hành án phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2022/HSST ngày 19/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương cũng đang ngồi xem ti vi và không đồng ý cho phạm nhân Trần Quang Tuyến mắc võng vì ảnh hưởng đến tầm nhìn nên hai bên có lời qua, tiếng lại xúc phạm nhau. Bực tức, phạm nhân Trần Quang T1 đứng dậy dùng chân phải đá mạnh trúng vùng hàm dưới bên trái của phạm nhân Lê Thanh H rồi H dùng tay đấm trúng vùng mặt của T1 thì có phạm nhân Nguyễn Minh V, Huỳnh Công N vào can ngăn. Lúc này, Lê Thanh H đi rửa mặt thì phát hiện bị chảy máu miệng nên được đưa đến Bệnh viện Đ1 và chuyển đến Bệnh viện răng hàm mặt Trung ương Thành phố H để điều trị thương tích.
Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 52/KLTTCT-TTPYBT ngày 23/11/2023 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh B kết luận thương tích của Lê Thanh H:
Chấn thương vùng hàm dưới bên trái, gãy kín xương hàm dưới vùng cằm và góc hàm trái đã được phẫu thuật điều trị, hiện mất răng 3.8, miệng há, ngậm bình thường, khớp cắn đúng. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 10% + 1%, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Thanh H tại thời điểm giám định là 11%.
+ Chấn thương do vật tày gây ra.
+ Chấn thương có chiều hướng lực tác động từ trái sang phải, từ trước ra sau.
Về phần dân sự: Bị hại Lê Thanh H không yêu cầu Trần Quang T1 bồi thường thiệt hại.
Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKSBT-P2 ngày 09/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Trần Quang T1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm g, i khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận:
Giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: Điểm g, i khoản 1, Đ đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Quang T1 mức án từ 03 (ba) năm tù đến 04 (bốn) năm tù. Tổng hợp với hình phạt tù chung thân tại Bản án số 702/2016/HSPT ngày 09/12/2016 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Buộc bị cáo Trần Quang T1 chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là tù chung thân.
- Ý kiến của bị cáo: Thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố.
- Ý kiến của bị hại: Không có yêu cầu bồi thường và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận truy tố; lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với lời khai của bị hại, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 27/8/2023, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt tại buồng giam I.1, khu I, Phân trại số B, Trại giam H1, Trần Quang T1 đã dùng chân phải đá trúng vùng hàm dưới bên trái làm gãy kín xương hàm dưới vùng cằm và góc hàm trái của bị hại Lê Thanh H. Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 52/KLTTCT-TTGĐYKPYBT ngày 23/11/2023 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh B kết luận tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lê Thanh H là 11%. Xét hành vi của bị cáo Trần Quang T1 có tính chất côn đồ và trong thời gian đang chấp hành án phạt tù nên đủ yếu cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm g, i khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như cáo trạng truy tố là có căn cứ.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tiền án, chưa được xóa án tích nhưng tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đang trong thời gian chấp hành án phạt tù chung thân nhưng bị cáo vẫn tiếp tục phạm tội, thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Mặc dù bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo cũng bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có hai tình tiết định khung hình phạt. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
Bị cáo Trần Quang T1 đang chấp hành hình phạt tù chung thân về tội “giết người” và “cướp tài sản” theo Bản án hình sự phúc thẩm số 702/2016/HS-PT ngày 09/12/2016 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, vì vậy tổng hợp với hình phạt của bản án này thành hình phạt chung theo quy định tại khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo Trần Quang T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 39; Khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Quang T1 03 (ba) năm tù.
Tổng hợp với hình phạt tù chung thân tại Bản án hình sự phúc thẩm số 702/2016/HSPT ngày 09/12/2016 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Buộc bị cáo Trần Quang T1 phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là tù chung thân, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành hình phạt tại Bản án hình sự phúc thẩm số 702/2016/HSPT ngày 09/12/2016 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Quang T1 phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - Phòng PC02 Công an tỉnh Bình Thuận; - Phòng PV06 Công an tỉnh Bình Thuận; - Cục THADS tỉnh Bình Thuận; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận; - Phòng KTNV&THA; - Nơi nhận khác theo Điều 262 BLTTHS; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đức Hùng |