vanban.org

Bản án 12/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 07/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đoàn Văn K 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án; Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Đoàn Văn K phải có trách nhiệm hoàn trả lại cho anh Nguyễn Văn K số tiền 3.800.000 đồng (Ba triệu tám trăm nghìn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Văn Kha - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÀ BỒNG
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/HS-ST
Ngày 07 - 03 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ BỒNG, TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Diễn

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông: Ngô Văn Hòa;

+ Ông: Nguyễn Quốc Bảo.

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Anh Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Bồng tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Non - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công Ki vụ án hình sự thụ lý số 16/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Đoàn Văn K. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 21/7/2003 tại thị trấn Trà Xuân, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Tổ dân phố 04, thị trấn Trà Xuân, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; Con ông Đoàn Văn Tâm, sinh năm 1975; Con bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1978; Tiền án: Không; Tiền sự: Có 02 tiền sự, cụ thể: Ngày 07/10/2022 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an thị trấn Trà Xuân, huyện Trà Bồng xử phạt hành chính số tiền 1.000.000 đồng, theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 24/QĐ – XPHC ngày 13/10/2022; Ngày 06/12/2022 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an thị trấn Trà Xuân, huyện Trà Bồng xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng, theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 26/QĐ – XPHC ngày 21/12/2022; Nhân thân: Ngày 18/6/2021 có hành vi trộm cắp tài sản bị Công an thị trấn Trà Xuân, huyện Trà Bồng xử phạt vi phạm hành chính số tiền 500.000 đồng; Bị cáo đang tại ngoại, “có mặt”;

- Người bị hại: Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1978. Nơi cư trú: Tổ dân phố 4, thị trấn Trà Xuân, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi.“có mặt”;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Thôn Tân An, xã Nghĩa An, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi “vắng mặt”;

2. Chị Đoàn Thị Yến L, sinh năm 2000; Nơi cư trú: Tổ dân phố 4, thị trấn Trà Xuân, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi “vắng mặt”;

- Người bào chữa cho bị cáo Đoàn Văn K:

Bà Phạm Thị Hà Châu – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Quảng Ngãi, “có mặt”;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đoàn Văn K không có việc làm, thiếu tiền tiêu sài cá nhân nên nảy sinh ý định lấy xe mô tô của mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Thanh N để bán lấy tiền. Thực hiện ý định đó, ngày 08/4/2023 K lén lút vào phòng ngủ của bà N lấy giấy mua bán xe và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 76V1- 8100 của bà N để trong vali phòng ngủ, nhưng vì xe mô tô biển số 76V1 – 8100 không để ở nhà nên K để giấy mua bán xe và giấy chứng nhận đăng ký xe lại vị trí cũ. Đến sáng ngày 09/4/2023, K tiếp tục vào phòng ngủ của bà N lấy giấy mua bán xe và giấy chứng nhận đăng ký xe và cất giữ.

Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 09/4/2023, để lấy được xe mô tô, K nói với bà N là điện thoại hư hỏng và mượn xe mô tô biển kiểm soát 76V1 – 8100 để đi sửa điện thoại. Tuy nhiên bà N không cho mượn, một lúc sau em ruột K tên Đoàn Thị Hồng đi học về, K nhờ Hồng nói giúp để bà N cho mượn xe, mặt khác, K quỳ để được bà N cho mượn xe. Thấy vậy, bà N đồng ý nhưng phải để Hồng chở K đi sửa điện thoại. Đến khoảng 12 giờ 50 phút cùng ngày, Hồng điều khiển xe mô tô biển số 76V1 – 8100 chở K đi được một đoạn đường thì K yêu cầu được điều khiển xe. Vì là em, nhỏ tuổi hơn nên Hồng đồng ý. K điều khiển xe mô tô chở Hồng đến xã Trà Sơn để sửa điện thoại nhưng K lấy lí do không sửa được, phải quay lại thị trấn Trà Xuân, K điều khiển xe mô tô chở Hồng đến ngã ba phía trước Lâm Trường Trà Bồng thuộc tổ dân phố 1, thị trấn Trà Xuân, huyện Trà Bồng thì dừng xe, nói Hồng xuống xe chờ để K đi gặp bạn mượn tiền sửa điện thoại, Hồng nghe lời K nên xuống xe đứng chờ, Hồng chờ khoảng một giờ đồng hồ nhưng không thấy K quay lại nên đi bộ về nhà báo với bà N. K sau khi lừa Hồng xuống xe thì K chạy thẳng đến thành phố Quảng Ngãi bán xe cho Nguyễn Văn K với giá 3.800.000 đồng; có được tiền, K bỏ trốn, đón xe đi Thành phố Hồ Chí Minh tiêu sài cá nhân, đến ngày 16/4/2023 thì về lại huyện Trà Bồng. Ngày 16/4/2023 bà N thấy K đang ở nhà nên hỏi về xe mô tô 76V1- 8100 thì K nói đã bán nên bà N trình báo cơ quan Công an.

Ngày 17/8/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận trị giá tài sản theo giá thị trường tại thời điểm đối với chiếc xe 76V1 – 8100 là 3.800.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 13 tháng 11 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo Đoàn Văn K về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của BLHS năm 2015 xử phạt bị cáo Đoàn Văn K từ 06 đến 12 tháng tù.

Vật chứng vụ án gồm: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 76V1 – 8100, nhãn hiệu HAVICO, số máy 107006, số khung 107006, đã qua sử dụng; 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 0055582, họ tên chủ xe: Đinh Văn Trãi, sinh năm 1965, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tân Phước, Bình Minh, Bình Sơn. Biển số 76V1-8100, nhãn hiệu HAVICO, số máy 107006, số khung 107006. Các vật chứng trên hoàn trả lại cho bà N.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bị cáo Đoàn Văn K phải có trách nhiệm hoàn trả lại cho anh Nguyễn Văn K số tiền 3.800.000 đồng (Ba triệu tám trăm nghìn đồng) theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của người bào chữa: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 3 Điều 54 của BLHS xử phạt bị cáo Đoàn Văn K 04 tháng tù.

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trà Bồng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Bồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng.

Đối với dấu hiệu tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có của anh Nguyễn Văn K:

Ngày 26/12/2023 Tòa án đã có quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung; ngày 15/01/2024 Viện kiểm sát có văn bản phản hồi là không thực hiện. Do vậy Tòa án vẫn xét xử theo nội dung truy tố và đã đưa ra xét xử theo quy định tại điều 298 của BLTTHS, nên cần kiến nghị cơ quan Điều tra xem xét về hành vi nêu trên đối với Nguyễn Văn K.

Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Trong quá trình điều tra đã có lời Ki và nội dụng cụ thể, nên vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng; lời Ki của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; phù hợp lời Ki tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, thể hiện: Vào ngày 09/4/2023 Đoàn Văn K có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 76V1 – 8100, nhãn hiệu HAVICO, số máy 107006, số khung 107006, đã qua sử dụng, trị giá 3.800.000 đồng của bà Nguyễn Thị Thanh N.

Lời Ki nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng, chứng cứ có trong hồ sơ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đoàn Văn K phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại Khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Hành vi bị cáo đã xâm phạm đến quan hệ sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ. Lỗi là cố ý trực tiếp, bị cáo có đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; tại phiên tòa bị hại đề nghị cơ quan pháp luật giáo dục nghiêm bị cáo. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết và cũng cần có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi bị cáo thực hiện; cách L bị cáo một thời gian khỏi cộng đồng xã hội nhằm cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng:

Tình tiết tăng nặng: không; Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn Ki báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại là mẹ ruột, cá nhân bị cáo thuộc diện hộ nghèo, nên cần xem đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung 2017 để xem xét giảm nhẹ và áp dụng mức án thấp của khung hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung : Bị cáo không nghề nghiệp, nên không áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn K yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 3.800.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo đồng ý hoàn trả, nên cần buộc bị cáo phải có trách nhiệm hoàn trả.

Về vật chứng của vụ án: Trả lại cho người quản lý, sử dụng hợp pháp là bà Nguyễn Thị Thanh N, gồm:

- 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 76V1 – 8100, nhãn hiệu HAVICO, số máy 107006, số khung 107006, đã qua sử dụng.

- 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 0055582, họ tên chủ xe: Đinh Văn Trãi, sinh năm 1965, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tân Phước, Bình Minh, Bình Sơn. Biển số 76V1- 8100, Nhãn hiệu HAVICO, số máy 107006, số khung 107006.

Hiện các vật chứng trên được lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi.

Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.

Ý kiến của người bào chữa về hình phạt không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử về nhân thân của bị cáo, không đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm này tại địa phương, nên không được chấp nhận.

Về án phí hình sự, dân sự sơ thẩm: Bị cáo là người thuộc diện hộ nghèo và có đơn xin miễn nộp án phí. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, 14 và Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Toà án bị cáo được miễn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 174; điểm i, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đoàn Văn K 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án;

2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Đoàn Văn K phải có trách nhiệm hoàn trả lại cho anh Nguyễn Văn K số tiền 3.800.000 đồng (Ba triệu tám trăm nghìn đồng).

3. Về vật chứng trong vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tuyên trả lại cho bà Nguyễn Thị Thanh N: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 76V1 – 8100, nhãn hiệu HAVICO, số máy 107006, số khung 107006, đã qua sử dụng và giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 0055582 của xe mô tô họ tên chủ xe: Đinh Văn Trãi, sinh năm 1965, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tân Phước, Bình Minh, Bình Sơn theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 15/11/2023 giữa Cơ quan Điều tra Công an huyện Trà Bồng và Cơ quan Thi hành án Dân sự huyện Trà Bồng.

4. Về án phí HSST và DSST: Bị cáo được miễn.

Bị cáo; bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Riêng những người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công Ki tại UBND nơi cư trú; quyền được yêu cầu công bố hay không công bố bản án.

Kể từ ngày anh Nguyễn Văn K có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Đoàn Văn K không chịu trả số tiền nêu trên thì K còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 cho đến khi thi hành án xong, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Văn Hòa

Nguyễn Quốc Bảo

Nguyễn Công Diễn Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Quảng Ngãi;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Sở tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;

- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;

- VKSND huyện Trà Bồng;

- Chi Cục THADS huyện Trà Bồng;

- Cơ quan THAHS CA huyện Trà Bồng;

- Cơ quan CSĐT CA huyện Trà Bồng;

- Bị cáo;

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu.

Nguyễn Công Diễn CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Văn Hòa

Nguyễn Quốc Bảo

Nguyễn Công Diễn Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Quảng Ngãi;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Sở tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;

- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;

- VKSND huyện Trà Bồng;

- Chi Cục THADS huyện Trà Bồng;

- Cơ quan THAHS CA huyện Trà Bồng;

- Cơ quan CSĐT CA huyện Trà Bồng;

- Bị cáo;

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu.

Nguyễn Công Diễn CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Văn Hòa

Nguyễn Quốc Bảo

Nguyễn Công Diễn

Cỡ chữ