vanban.org

Bản án 12/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau Tuyên án 18/07/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí N (Lê Chí N1), phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Chí N (Lê Chí N1) 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giam, ngày 15/4/2024. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí N (Lê Chí N1), phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/HS-ST
Ngày 18 – 7 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Như.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Giang.

Ông Nguyễn Văn Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Võ Thuý Nhị - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 17 và 18 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Chí N, sinh ngày 01/01/1977 tại tỉnh Cà Mau; Tên gọi khác: Lê Chí N1; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Minh T (đã chết) và bà Phạm Thanh H (Phạm Thị H1); Vợ, con: Không có; Tiền án: 02 tiền án tại Bản án số 28/2008/HSST ngày 26/9/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xử phạt Nguyễn Chí N (Lê Chí N1) 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 03 năm 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt là 06 năm 06 tháng tù. Bản án số 192/2008/HSPT ngày 19/12/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau y án sơ thẩm. Chấp hành xong hình phạt ngày 03/12/2014; Bản án số 45/2016/HS-ST ngày 26/12/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xử phạt Nguyễn Chí N (Lê Chí N1) 09 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 25/3/2023; Tiền sự: 01 Tiền sự tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 49/QĐ-XPHC ngày 03/4/2024 bị Công an huyện P xử phạt số tiền 4.000.000 đồng về hành vi “Mang theo trong người các loại công cụ khác có khả năng sát thương nhằm mục đích cố ý gây thương tích cho người khác”, chưa nộp phạt; Nhân thân: 1. Bản án số 27 ngày 28/9/1995 Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Minh Hải xử phạt Nguyễn Chí N 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”. 2. Bản án số 39 ngày 21/11/1995 Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Minh Hải xử phạt Nguyễn Chí N 12 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”, tổng hợp hình phạt tại Bản án số 27 ngày 28/9/1995 Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Minh Hải là 21 tháng tù. Đã chấp hành xong hình phạt ngày 30/8/1996. 3. Bản án số 54/HS-ST ngày 15/4/1997 Tòa án thị xã Cà Mau (nay thành phố C), tỉnh Cà Mau xử phạt Nguyễn Chí N 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa”. 4. Bản án số 90/HS-ST ngày 15/7/1997 của Tòa án nhân dân thị xã Cà Mau (nay thành phố Cà Mau), tỉnh Cà Mau xử phạt Nguyễn Chí N 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, 12 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”, tổng hợp hình phạt tại Bản án số 54/ST-HS ngày 15/4/1997 Tòa án thị xã Cà Mau (nay thành phố C), tỉnh Cà Mau hình phạt chung phải chấp hành là 42 tháng tù. Đã chấp hành xong hình phạt ngày 14/8/2000. 5. Bản án số 11/HSST ngày 22/4/2003 bị Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau xử phạt Lê Chí N1 (Nguyễn Chí N) 36 tháng tù về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”. Đã chấp hành xong hình phạt ngày 27/12/2005; Bị cáo bị khởi tố tạm giam từ ngày 15/4/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Lê Văn T1, Sinh năm: 1985. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp R, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 40 phút, ngày 14/4/2024 Nguyễn Chí N (Lê Chí N1) đi ngang nhà ông Lê Văn T1 ở ấp R, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau thấy có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu đen xám đỏ, biển số đăng ký 69N1-320.67 đang đậu cặp bên nhà không có người trông giữ, trên xe có gắn chìa khóa nên nảy sinh ý định lấy trộm. Lúc này N đi vào dẫn xe ra lộ, đề máy, điều khiển xe chạy đến huyện T, tỉnh Cà Mau. Nhận được tin báo, lực lượng Công an xã P đã truy tìm và phát hiện N cùng xe tại nhà trọ của ông Đặng Văn T2 thuộc khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau nên lập biên bản và thu giữ vật chứng. Qua làm việc Nguyễn Chí N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐG ngày 15/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện P kết luận: Xe mô tô hai bánh nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS FI-1FC8, dung tích 113,7cm3, màu đen xám đỏ, biển số đăng ký 69N1-320.67 có giá trị 4.675.900 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 12/CT-VKS ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân truy tố bị cáo Nguyễn Chí N (Lê Chí N1) về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại đơn xin vắng mặt đề ngày 03/7/2024 bị hại ông Lê Văn T1 trình bày: Về trách nhiệm hình sự yêu cầu xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Do điều kiện đi lại khó khăn nên xin vắng mặt.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí N (Lê Chí N1) phạm tội “Trộm cắp tài sản” áp dụng g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đề cập để xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đã trả lại cho chủ sỡ hữu nên không đề cập để xem xét.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định. Bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung bản cáo trạng, lời khai của bị hại và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa cụ thể như sau: Vào ngày 14/4/2024 bị cáo Nguyễn Chí N (Lê Chí N1) có hành vi lén lút lấy trộm xe mô tô hai bánh nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS FI-1FC8, dung tích 113,7cm3, màu đen xám đỏ, biển số đăng ký 69N1-320.67 của ông Lê Văn T1 ở ấp R, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau có giá trị 4.675.900 đồng. Bị cáo có 02 tiền án tại Bản án số 28/2008/HSST ngày 26/9/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xử phạt Nguyễn Chí N (Lê Chí N1) 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 03 năm 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt là 06 năm 06 tháng tù. Bản án số 192/2008/HSPT ngày 19/12/2008 của Tòa án nhân dân tỉnhCàMautuyên y án sơ thẩm. Chấp hành xong hình phạt ngày 03/12/2014; Bản án số 45/2016/HS-ST ngày 26/12/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xử phạt Nguyễn Chí N (Lê Chí N1) 09 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 25/3/2023 tại hai Bản án trên đã xác định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm chưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm tội. Nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số: 12/CT-VKS ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân truy tố đối với bị cáo Nguyễn Chí N (Lê Chí N1) theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng người, đúng tội.

Bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp và đã đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về mọi hậu quả do mình gây ra. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác một cách trái pháp luật, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo là người trưởng thành đủ sức khỏe lao động kiếm tiền hợp pháp để tiêu xài nhưng do bản tính tham lam, lười lao động muốn hưởng thụ trên công sức của người khác. Do đó, cần có mức án tương xứng với hành vi của bị cáo mới đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Ngoài ra, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân không tốt nhiều lần bị Toà án nhân dân các cấp xử phạt tù về nhiều tội danh khác nhau. Điều đó cho thấy, sau khi tái hòa nhập cộng đồng bị cáo không hoàn thiện bản thân thành người có ích cho xã hội mà tiếp tục vi phạm pháp luật, điều đó thể hiện sự xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc để răng đe, giáo dục đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sỡ hữu các vật chứng trong vụ án là phù hợp nên không đặt ra xem xét, cụ thể:

- Trả lại cho bị hại: 01 chiếc xe biển số đăng ký 69N1-320.67 nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS FI-1FC8, dung tích 113,7cm3, màu sơn: đen xám đỏ, số động cơ (số máy) E3T6E083548, số khung: RLCUE1710GY056000. (Theo biên bản giao trả tài sản ngày 25/4/2024)

- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại OPPO A785G, màu hồng nhạt, số IMEI 1: 86409 7040 788 151; số IMEI 2: 86409 7040 245 830; bên trong có gắn sim điện thoại số thuê bao 0868723200; 01 đôi giày nam, da màu nâu, đế màu đen; 01 đôi dép nam, quai ngang màu nâu, đế màu đen; 01 cuộn băng keo màu trăng; 01 bịt ni long màu đen; 01 quần thun thể thao ống dài, hai bên phần hông quần có 03 viền đỏ, quần màu đen; 01 áo sơ mi dài tay, màu đen, loại áo nam. (Theo biên bản giao trả tài sản ngày 07/5/2024).

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên là có cơ sở nên được chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí N (Lê Chí N1), phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Chí N (Lê Chí N1) 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giam, ngày 15/4/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bản án sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ