- Tranh chấp gì? án hình sự — "truy tố bị cáo Đoàn Tấn K về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ su…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Tấn K phạm tội: “Cố ý gây thƣơng tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 12/2024/HS-ST Ngày: 26/02/2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT – TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Quốc Chiến
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Đoạt
Bà Nguyễn Thị Hồng Ánh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Diệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất tham gia phiên tòa: Ông Lƣơng Thành Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2024. Tại trụ sở TAND huyện Hòn Đất, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST-HS ngày 30/01/2024 đối với bị cáo:
Đoàn Tấn K, sinh ngày 15/11/1986; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKTT, chỗ ở hiện nay: tổ 3, ấp Số 8, xã S, huyện H, tỉnh K; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: lớp 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: V Nam; Con ông Đoàn Tấn C, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1956; Bị cáo có vợ tên Võ Thị Trà M, sinh năm 1990 và 01 người con sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2023 cho đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
* Bị hại: Anh Danh Đ, sinh năm 2005 (Có mặt).
Địa chỉ: tổ 11, khu phố C, thị trấn H, huyện H, tỉnh K.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Trƣơng Thị Mỹ P, sinh năm 1980 (Vắng mặt).
Địa chỉ: tổ 3, ấp Số 8, xã S, huyện H, tỉnh K.
- Ông Đoàn Tấn V, sinh năm 1982 (Có mặt).
Địa chỉ: tổ 3, ấp Số 8, xã S, huyện H, tỉnh K.
* Người làm chứng:
- Ông Đặng Hồng N, sinh năm 1980 (Vắng mặt).
Địa chỉ: tổ 2, ấp Số 8, xã S, huyện H, tỉnh K.
- Ông Đoàn Văn D, sinh năm 1987 (Vắng mặt).
Địa chỉ: tổ 11, khu phố C, thị trấn H, huyện H, tỉnh K.
- Ông Vũ Đức Ng, sinh năm 1975 (Vắng mặt).
Địa chỉ: tổ 18, ấp Tà Lóc, xã Sơn Kiên, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
- Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1982 (Vắng mặt).
Địa chỉ: tổ 3, ấp Số 8, xã S, huyện H, tỉnh K.
- Anh Phạm Hoàng T, sinh năm 2004 (Vắng mặt).
Địa chỉ: tổ 1, ấp Vạ, xã T, huyện H, tỉnh K.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào năm 2017 Đoàn Tấn V có vay tiền của bà Trương Thị Mỹ P (người cùng ấp) số tiền 15.000.000 đồng, trong thời gian vay tiền V có tham gia chơi chung dây hụi gồm 28 người, do bà P làm chủ hụi, sau đó V hốt dây hụi này và có trách nhiệm đóng lại tiền hụi chết cho bà P là 24.000.000 đồng trong thời hạn 12 tháng, (mỗi tháng đóng 2.000.000 đồng). Tổng cộng V nợ tiền vay và tiền hụi chết của bà P là 39.000.000 đồng. Vào khoảng tháng 4 năm 2023 Danh Đ là bạn với con bà P đến nhà bà P chơi, bà P kể lại sự việc Đoàn Tấn V còn thiếu tiền 39.000.000 đồng cho Danh Đ nghe, nhưng đòi hoài V không trả, Danh Đ liền nói “Để con đi đòi dùm cho dì” bà P nói “Ừ, con đòi được thì đòi, nếu V không trả thì cho nó biết mắc cỡ với người ta thôi”.
Đến khoảng 15 giờ ngày 04/5/2023 lúc này V cùng với Đoàn Tấn K (em ruột V) đến quán cà phê tên “Tỉnh Kiên Giang” do bà Nguyễn Thị G làm chủ để uống nước, biết được V đang uống cà phê tại quán “Tỉnh Kiên Giang" Danh Đ rủ thêm Tô Hoàng O, Phạm Hoàng T, Nguyễn Huỳnh Phi L, L và Đ (chưa xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể) cùng đi đến quán cà phê “Tỉnh Kiên Giang”, khi đến quán Danh Đ nhìn thấy V liền kêu L, T, O, L và Đ đi vào trong quán thì bị bà G chủ quán đuổi ra thì cả nhóm bỏ đi ra ngoài. Sau đó Danh Đ tiếp tục đi đến chỗ V đang nằm võng, Danh Đ nói “Ông V ơi trả tiền cho cô P đi” V nói “Tiền gì, tao có thiếu tiền tụi mày đâu mà trả” hai bên lời qua tiếng lại cự cãi nhau, Danh Đ vừa nói vừa dùng tay nắm võng, dùng chân đá trúng vào phần đích của V 2, 3 cái, bị đánh V đứng lên thì Danh Đ lùi về phía sau. Lúc này Đoàn Tấn K đang nằm võng gần đó thấy V bị Danh Đ đánh liền đứng lên thì nhìn thấy cây kéo bằng kim loại, mũi kéo nhọn, đang nằm trên bàn gần đó, K liền chụp lấy cây kéo xông tới đâm hai nhát, một nhát trúng vào vùng ngực phải, một nhát trúng vào vùng hạ sườn trái của Danh Đ gây thương tích, bị đâm Danh Đ bỏ chạy ra ngoài được cả nhóm đưa đến trung tâm y tế huyện Hòn Đất sơ cứu, sau đó chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Kiên Giang điều trị từ ngày 04/5/2023 đến ngày 12/5/2023 thì xuất viện.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 458/KLTTCT-PY ngày 20/06/2023 của Trung tâm pháp y - thuộc Sở y tế tỉnh Kiên Giang, kết luận thương tích của Danh Đ như sau:
1. Các kết quả chính:
- Kết quả khám giám định:
+ Vết thương vùng ngực phải, gây thủng cơ hoành phải, tràn khí màng phổi phải, thủng gan phải tự cầm đã được phẫu thuật kiểm tra vết thương gan thấy máu tự cầm khâu lỗ thủng cơ hoành và đặt dẫn lưu màng phổi.
+Vết thương vùng hạ sườn trái, gây thủng phúc mạc, thủng ruột non đã được phẩu thuật khâu lỗi thùng và đặt dẫn lưu túi cùng douglas.
- Kết quả cận lâm sàn:
+ Siêu âm bụng tổng quát: Theo dõi sẹo tổn thương gan.
+ Kết quả CT-Scan ngực (khảo sát phối màng phổi): Không thấy hình ảnh bất thường.
2. Kết luận:
2.1 Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Danh Đ tại thời điểm giám định là 54%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
2.2 Tỷ lệ tổn thương do thương tích gây nên hiện tại thời điểm giám định ở:
- Vùng ngực phải là 33,77%.
- Vùng hạ sườn trái là 30,59%.
2.3 Vật gây thương tích: Vật có cạnh gốc nhọn.
Tại bản kết luận giám định vật gây thương tích số: 459/KLTTCT-PY ngày 20/06/2023 của Trung tâm pháp y - thuộc Sở y tế tỉnh Kiên Giang, kết luận như sau:
1. Các kết quả chính:
- Kết quả nghiên cứu mẫu vật: Cây kéo gửi giám định có cạnh gốc nhọn.
- Kết quả đối chiếu mẫu vật với thương tích: Mẫu vật do cơ quan Cảnh sát điều tra gửi giám định có cạnh gốc nhọn tương tự với vật gây thương tích ở vùng ngực phải và vùng hạ sườn trái của Danh Đ.
2. Kết luận:
Căn cứ kết quả giam định vật gây thương tích, cây kéo được cơ quan trưng cầu giám định gửi đến giám định có khả năng gây ra được thương tích ở vùng ngực phải và hạ sườn trái của Danh Đ.
Tại Cáo trạng của Viện kiểm sát số: 15/CT-VKS-HĐ ngày 17/01/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất đã truy tố bị cáo Đoàn Tấn K về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Đoàn Tấn K từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là Danh Đ yêu cầu bị cáo Đoàn Tấn K bồi thường tiền chi phí điều trị bệnh và các khoản chi phí khác tổng cộng là 40.000.000 đồng, bị cáo và gia đình đã bồi thường xong. Vào ngày 18/01/2024 bị hại Danh Đ làm đơn yêu cầu hỗ trợ do mất sức khỏe không lao động được với số tiền là 60.000.000 đồng, tuy nhiên tại phiên tòa bị hại xin rút lại yêu cầu này và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận và không xét.
- Vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hòn Đất đã thu giữ 01 cây kéo bằng kim loại dài 21,5cm, cán kéo màu vàng hình vòng cung, lưỡi kéo dài 10cm, nơi rộng nhất của lưỡi kéo 2cm, mũi kéo nhọn. Đây là vật chứng bị cáo dùng để gây thương tích cho bị hại không còn giá trị sử dụng nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.
- Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo Đoàn Tấn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa: Bị cáo Đoàn Tấn K khai nhận hành vi phạm tội của mình là đúng như lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như nội dung bản cáo trạng mà vị đại diện Viện kiểm sát đã công bố tại Tòa.
Bị hại có ý kiến: Anh Danh Đ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 40.000.000 đồng, bị cáo và gia đình đã bồi thường xong. Vào ngày 18/01/2024 bị hại Danh Đ làm đơn yêu cầu hỗ trợ do mất sức khỏe không lao động được với số tiền là 60.000.000 đồng. Tại phiên Tòa anh Danh Đ xin rút lại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Hòn Đất, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Vào khoảng 15 giờ ngày 04/5/2023, tại tổ 3, ấp Số 8, xã S, huyện H, tỉnh K, Đoàn Tấn K đã có hành vi dùng cây kéo bằng kim loại dài 21,5cm, mũi kéo nhọn là loại hung khí nguy hiểm đâm hai nhất trúng vào vùng ngực phải và vùng hạ sườn trái của Danh Đ gây thương tích, làm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 54% sức khỏe. Do đó, hành vi của bị cáo Đoàn Tấn K có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự. Như kết luận của Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Xét thấy, bị cáo Đoàn Tấn K và bị hại Danh Đ không có mâu thuẫn từ trước nhưng chỉ vì bị hại Danh Đ đến tìm anh bị cáo để đòi nợ giúp bà P và nghĩ Danh Đ đến đánh anh bị cáo nên bị cáo đứng ra bênh vực mà lấy cây kéo đâm bị hại hai nhát vào vùng ngực phải và vùng hạ sườn trái gây thương tích, làm tổn thương cơ thể 54% sức khỏe thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm được hướng dẫn tại điểm a mục 2.2 Phần I Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17 tháng 4 năm 2003 và tiểu mục 3.1 Mục 3 Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12 tháng 5 năm 2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Đoàn Tấn K phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 với tình tiết định khung là sử dụng hung khí nguy hiểm và côn đồ là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng. Bị cáo Đoàn Tấn K là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận biết được việc sử dụng kéo sắc nhọn là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người khác là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác được Bộ luật hình sự bảo vệ. Tuy nhiên, chỉ vì bị cáo đứng ra bệnh vực anh trai mình mà bị cáo đã dùng kéo đâm bị hại thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 54%. Hành vi của bị cáo thể hiện tính chất côn đồ, thái độ hung hăng, quyết liệt, xem thường sức khỏe, tính mạng của người khác, coi thường pháp luật và gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt thật nghiêm để răn đe, để giáo dục bị cáo đồng thời để phòng ngừa chung cho xã hội.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Đoàn Tấn K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại xong, bị hại đã làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo là đối tượng có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, Bị hại cũng có một phần lỗi. Ngoài ra, gia đình bị cáo có bà Nguyễn Thị N là mẹ ruột bị cáo là người có công với cách mạng được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng huân chương kháng chiến hạng ba. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS. Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54 của BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát: Vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố theo bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện khắc phục hậu quả, bị hại làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình có công với cách mạng là có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo là quá nhẹ không tương xứng với hành vi của bị cáo do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Các vấn đề khác:
* Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại là anh Danh Đ yêu cầu bị cáo Đoàn Tấn K bồi thường tiền chi phí điều trị bệnh và các khoản chi phí khác tổng cộng là 40.000.000 đồng, bị cáo và gia đình đã bồi thường xong. Vào ngày 18/01/2024 bị hại Danh Đ làm đơn yêu cầu bị cáo hỗ trợ do mất sức khỏe không lao động được với số tiền là 60.000.000 đồng, tuy nhiên tại phiên tòa bị hại tự nguyên xin rút yêu cầu này và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm. Xét thấy đây là sự tự nguyện của bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận và không xét.
* Vật chúng vụ án: 01 cây kéo bằng kim loại, dài 21,5cm, cán kéo màu vàng hình vòng cung, lưỡi kéo dài 10cm, nơi rộng nhất của lưỡi kéo 02cm, trên lưỡi kéo có để chữ ASAKHJAPAN, mũi kéo nhọn. Xét thấy đây là hung khí bị cáo dùng để gây án nên cần tịch thu tiêu hủy.
* Về án phí: Buộc bị cáo Đoàn Tấn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
* Đối với Tô Hoàng O, Phạm Hoàng T, Nguyễn Huỳnh Phi L, L và Đ có hành vi tham gia đi cùng Danh Đ đến gặp Đoàn Tấn V để đòi tiền hộ cho bà P nhưng không có tính bàn bạc trước, không mang theo hung khí, nên không có cơ sở xử lý nhóm người này theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Tấn K phạm tội: “Cố ý gây thƣơng tích”.
2. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đoàn Tấn K 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/8/2023.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộluật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 cây kéo bằng kim loại, dài 21,5cm, cán kéo màu vàng hình vòng cung, lưỡi kéo dài 10cm, nơi rộng nhất của lưỡi kéo 02cm, trên lưỡi kéo có để chữ ASAKHJAPAN, mũi kéo nhọn.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 10/QĐ-VKS ngày 15/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đoàn Tấn K phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo; bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi Nhận:
| - TAND Tỉnh KG; - VKS H.Hòn Đất; - Chi cục THADS H.Hòn Đất; - Công an H.Hòn Đất; - Sở Tư Pháp; - Phòng hồ sơ CA tỉnh; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Quốc Chiến |